|
| Bà Lê Thị Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Kim Thảo | |
|
(VnMedia) - Tại Hội thảo về nâng cao hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán tái hòa nhập cộng đồng do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức ngày 16/1, bà Lê Thị Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội cho biết, trong những năm qua trên địa bàn toàn quốc, tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài diễn ra phức tạp, tính chất và quy mô hoạt động tội phạm đang có chiều hướng gia tăng, xuất hiện nhiều đường dây buôn bán phụ nữ trẻ em xuyên quốc gia liên quan đến nhiều địa phương. Có sự câu kết chặt chẽ giữa tội phạm trong nước với người nước ngoài để đưa nạn nhân sang nước thứ hai hoặc thứ ba.
Theo số liệu báo cáo của các địa phương, hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em tập trung vào các tuyến và địa bàn trọng điểm như: tuyến biên giới Việt – Trung chiếm 65% tổng số vụ; tuyến biên giới Việt – Camphuchia chiếm 10% tổng số vụ, phụ nữ, trẻ em chủ yếu bị bán các động mại dâm ở Campuchia, một số bị bán sang các nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan...
Thủ đoạn phổ biến của tội phạm là lợi dụng phụ nữ, trẻ em ở vùng nông thôn nghèo có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thất nghiệp, không có việc làm, sau đó hứa tìm việc làm thích hợp ở thành phố, thị xã rồi tìm mọi cách đưa qua biên giới để bán cho các chủ chứa hoặc các tổ chức tội phạm ở nước ngoài. Một số thủ đoạn khác như tạo mối quan hệ thân thiện, thậm chí yêu nhau, sau một thời gian quan hệ, bọn tội phạm hứa hẹn, tạo niềm tin, lừa nạn nhân đi du lịch, khi sang đến nước ngoài chúng bán cho các đối tượng đã chờ sẵn. Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp nạn nhân là gái mại dâm, ăn chơi đua đòi, hoặc một số người do làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều, muốn kiếm việc làm có thu nhập cao để thay đổi cuộc sống.
Tình hình buôn bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài ở Việt Nam rất phức tạp
Theo báo cáo của các bộ ngành địa phương, tính đến tháng 12/2008 trên địa bàn cả nước có 2579 nạn nhân trở về, theo phân tích bước đầu cho biết khoảng 60% nạn nhân tự trở về, 25% được giải cứu, 15% tiếp nhận chính thức. Số nạn nhân bị buôn bán là nữ giới, nạn nhân là trẻ em, nhất là trẻ sơ sinh đang gia tăng, chủ yếu xảy ra ở khu vực Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Giang, Nam Định.
Một số địa phương đã tiếp nhận số lượng khá lớn nạn nhân trở về như: Lào cai: 26 nạn nhân; Tây Ninh: 18 nạn nhân; Hà Giang: 10 nạn nhân; Nam Định: 10 nạn nhân; Tuyên Quang: 11 nạn nhân; Cao Bằng: 9 nạn nhân. Đặc biệt, tại Quảng Ninh, riêng trong Quí I năm 2008, đã tiếp nhận 9 trường hợp, trong đó có 8 nạn nhân là trẻ sơ sinh...Tuy nhiên, kết quả rà soát thống kê trên chưa phản ánh được thực tế các trường hợp phụ nữ, trẻ em bị buôn bán và số nạn nhân bị buôn bán tự trở về hiện đang sống ở cộng đồng.
|
Theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, mỗi năm trên thế giới có khoảng 60.000 – 80.000 người bị buôn bán, 80% là phụ nữ và trẻ em gái, trong đó có khoảng 50% là trẻ em.
Theo báo cáo của các Cơ quan Đại diện (CQĐD) của Việt Nam tại một số địa bàn trọng điểm, từ đầu năm 2008 Việt Nam đã phối hợp với chính quyền sở tại và các tổ chức nhân đạo giải cứu và hồi hương được 56 nạn nhân: Nga (12 người), Ma Cao (1 người); Quảng Châu – Trung Quốc (10 người); Nam Ninh – Trung Quốc (3 người); Campuchia (5 người); Lào (3 người); Đài Loan (12 người); Singapore (7 người); Malaysia (3 người). |
Tại Hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Lãnh sự Bùi Quốc Thành cho biết, việc buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em cùng với việc đưa người đi dư cư trái phép là một vấn nạn mang tính toàn cầu và có chiều hướng gia tăng trên phạm vi toàn thế giới, bất chấp những nỗ lực của các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong việc ngăn chặn và đấu tranh loại trừ tệ nạn này.
Theo ông Thành, Việt Nam là một trong những quốc gia mà các loại hình tội phạm liên quan đến buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em phát triển tương đối phức tạp. Trong những năm qua, Việt Nam đã tập trung nhiều nỗ lực trong việc đấu tranh, phòng ngừa và trấn áp đối với loại hình tội phạm trên. Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước trong lĩnh vực phòng chống buôn bán người, Việt Nam đã tăng cường hợp tác chặt chẽ với các nước, các tổ chức quốc tế như UNICEF, IOM, UNODC,...triển khai thực hiện các chương trình, dự án quan trọng tuyên truyền phổ biến kiến thức, trấn áp loại tội phạm buôn bán người.
Năm 2008, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống buôn bán người. Việt Nam tiếp tục đứng trong nhóm 2 trong 4 năm liên tiếp (Nhóm 2 là nhóm có mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn của Mỹ thấp hơn nhóm 1 nhưng đã có những nỗ lực đáng kể trong vấn đề phòng chống buôn bán người).
Tuy nhiên, công tác xác minh, tiếp nhận và hồi hương ở CQĐD còn gặp một số khó khăn do sự thiếu hợp tác của chính nạn nhân. Vì lý do tế nhị, nhạy cảm nên nhiều nạn nhân không cung cấp đầy đủ thông tin về nhân thân và những người liên qua gây không ít khó khăn cho việc xác minh. Có người còn không sẵn sàng tiếp xúc với cán bộ của CQĐD. Phía sở tại đôi khi chậm trễ trong việc cung cấp thông tin về nạn nhân trong quá trình điều tra nên việc hội hương nạn nhân bị chậm trễ. Tại một số địa bàn có tình trạng thiếu sự hợp tác của cơ quan chức năng sở tại do quy định luật pháp còn khác nhau trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến buôn bán người.
Hỗ trợ 254 nạn nhân bị buôn bán từ nước ngoài trở về
Bà Lê Thị Hà cho biết, theo báo cáo của 35/63 tỉnh, thành phố, tính đến tháng 11/2008, ngành Lao động Thương binh và Xã hội đã lập hồ sơ hỗ trợ cho 254 trường hợp phụ nữ, trẻ em là nạn nhân bị buôn bán từ nước ngoài trở về.
Các nạn nhân trở về đã được hưởng chế độ hỗ trợ tương đối đồng bộ như khám chữa bệnh, hỗ trợ vay vốn, học văn hóa, giải quyết việc làm và tham gia sinh hoạt các câu lại bộ, các đoàn thể xã hội tại địa phương,...
Mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân trở về thông qua các hoạt động lồng ghép, phòng ngừa và tái hòa nhập cộng đồng tại xã, phường được chú trọng trển khai ở nhiều địa phương như Cần Thơ, An Giang, Lào Cai, Quảng Ninh, Thanh Hóa, TP Hồ Chí Minh...
Điển hình, tại Bắc Giang đã mở lớp học nghề cho 30 người, trợ giúp cho 10 trường hợp khó khăn với số tiền là 4 triệu đồng, cho vay vốn giải quyết việc làm 52 triệu đồng, lập quỹ tình nghĩa xây nhà cho 1 nạn nhân là 10 triệu đồng; tỉnh Bắc Ninh hỗ trợ chữa bệnh cho 16 nạn nhân, dạy nghề cho 3 trường hợp, tín chấp vay vốn cho 10 người với 23 triệu đồng.
Bà Hà cho biết thêm, việc hỗ trợ nạn nhân thông qua các dự án phối hợp với các tổ chức phi chính phủ như Tổ chức Action Aid Quốc tế tại Việt Nam (AAIV); Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (CWD); Tổ chức Di Cư Quốc Tế (IOM); Ủy ban Y tế Hà Lan tại Việt Nam (MCNV); UNICEF,...,ngày càng phổ biến ở nhiều tỉnh, thành phố.
Đặc biệt, hình thức trợ giúp từng trường hợp nạn nhân thông qua gói dịch vụ trị giá từ 300 đến 500 USD dựa trên đánh giá nhu cầu của nạn nhân đã có nhiều hiệu quả thiết thực đối với các nạn nhân tại các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tây Ninh,...
Mô hình hỗ trợ tại Trung tâm như “nhà tạm lánh” (Hà Nội), “Nhà mở” (An Giang, Cần Thơ,...) thông qua phối hợp của các ngành, đoàn thể và các tổ chức Quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán có hoàn cảnh khó khăn ở các tỉnh lân cận được lưu trú tạm thời, được tư vấn tâm lý, khám sức khỏe, học nghề, tạo việc làm, ...để hồi hương, tái hòa nhập cộng đồng.
Trong năm 2008, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với vai trò là cơ quan chủ trì thực hiện Đề án 3 về tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân là phụ nữ trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về đã tích cực, chủ động, triển khai nhiều hoạt động và đạt được nhiều kết quả nổi bật trên các mặt như: công tác chỉ đạo triển khai, xây dựng văn bản, thông tin tuyên truyền, chú trọng công tác điều tra, khảo sát, hỗ trợ trực tiếp cho nạn nhân, xây dựng mô hình hỗ trợ nạn nhân có hiệu quả, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của ngành trong việc hỗ trợ tâm lý xã hội cho nạn nhân,...
Để tăng cao hiệu quả của công tác này, bà Lê Thị Hà nhấn mạnh, năm 2009 cần tăng cường hơn nữa việc trao đổi thông tin giữa cơ quan chủ trì Đề án 3 và các tổ chức Quốc tế trong việc hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về, thống nhất các hoạt động của các địa phương thực hiện Dự án, tránh tính trạng không biết thông tin chính xác về sự hỗ trợ mà các tổ chức đang thực hiện. Bên cạnh đó, các địa phương cần thực hiện lồng ghép các hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng với phòng ngừa nhằm tạo môi trường thuận lợi cho nạn nhân trở về và ngăn chặn có hiệu quả phụ nữ, trẻ em có nguy cơ bị buôn bán.
Kim Thảo |