
|
| ||
Ông có thể cho biết những lý do mà ông cho rằng nền kinh tế Việt Có 8 lý do để Việt Thứ hai, Việt Thứ ba là việc được hưởng lợi từ việc hội nhập vào ASEAN và tăng trưởng của Trung Quốc. Thứ tư, Việt Thứ năm, rất quan trọng là xu hướng dân số – trẻ và năng động. Chất lượng nguồn nhân lực Việt Thứ sáu là mức tăng trưởng tiêu dùng cao trong nhiều năm tới. Thứ bảy là Việt Và cuối cùng, Việt Liệu có phải xem lại yếu tố về tăng trưởng tiêu dùng không khi từ giữa năm 2007 đến nay, đặc biệt là mấy tháng qua, sức cầu đã giảm khá mạnh do lạm phát tăng cao? Theo tôi, đó chỉ là vấn đề trong ngắn hạn. Chúng tôi sử dụng chỉ tiêu về sức mua tương đương để đánh giá nhằm loại bỏ ảnh hưởng của lạm phát và có thể so sánh giữa các nước với nhau. Các tính toán của chúng tôi cho thấy rằng sức mua của Việt Nam có thể sẽ tăng thêm từ 9 - 10% mỗi năm, trong giai đoạn sáu năm tiếp theo và có thể tăng gấp ba lần so với giá trị hiện tại vào năm 2025. Một cách khác để xem xét mức tăng của sức tiêu dùng của người Việt Các dữ liệu về phạm vi xâm nhập của tài chính tiêu dùng vẫn thiếu, và bản thân điều này phản ánh việc thâm nhập chậm của tài chính tiêu dùng. Nếu chúng ta nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô, thì tỷ lệ tiết kiệm ở Việt Nam là tương đối cao so với khu vực và tỷ lệ này đã và đang tăng lên theo thời gian, từ mức chỉ là 3% trong năm 1990 lên hơn 30% trong năm 2006. Trong khi số tiền tiết kiệm này, ngoài việc dùng vào chi tiêu, có thể được đưa vào đầu tư, thì tỷ lệ tiết kiệm được coi như là một thước đo đối với sức tiêu dùng tiềm năng của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn bởi tình trạng lạm phát, thâm hụt thương mại cao và tăng trưởng kinh tế chậm lại? Những số liệu kinh tế gần đây của Việt Mặc dù vẫn lạc quan về viễn cảnh cơ cấu kinh tế của Việt Nam, chúng tôi cũng xin khẳng định quan điểm: do Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở cửa nhất trong khu vực, sự trì trệ của nền kinh tế Mỹ và ảnh hưởng của nó đến thị trường châu Á sẽ có một số tác động tiêu cực đến Việt Nam. Giống như các nước khác trong khu vực, Chính phủ Việt Với tỷ lệ lạm phát cao, chúng tôi cho rằng Việt Dòng vốn đầu tư từ bên ngoài qua nhiều kênh khác nhau như FDI, vốn đầu tư gián tiếp, kiều hối và ODA có thể vượt qua con số 30 tỉ đô la trong năm 2008 là nguồn lực cần thiết cho phát triển kinh tế nhưng nó cũng có thể là một con dao hai lưỡi bởi các dòng vốn đôi khi còn rất hay thay đổi. Mặc dù theo xu hướng hiện tại, dòng vốn vào có thể được duy trì và tăng nhanh trong thời gian tới, nhưng chỉ một sự thay đổi trong viễn cảnh kinh tế trong nước cũng có thể tạo ra sự đổi chiều đột ngột của dòng vốn này. Chính phủ và ngân hàng Nhà nước vẫn cần phải quản lý chặt chẽ lượng tiền mặt để giảm sức nóng và sức ép do lạm phát quá cao. Thâm hụt thương mại cũng là một vấn đề lớn. Thâm hụt thương mại của Việt Nam có thể sẽ tiếp tục tăng trong năm 2008, từ mức 12,4 tỉ đô la trong năm 2007 lên 20 tỉ đô la. Với tình trạng thâm hụt thương mại lớn và kéo dài, sự đổi hướng của dòng vốn có thể có tác động rất mạnh tới ngành tài chính của Việt Điều này đòi hỏi chính phủ cần theo đuổi chính sách tiền tệ đáng tin cậy và cải tổ các quy trình để củng cố niềm tin của nhà đầu tư, nhằm duy trì sự ổn định. Theo Mạnh Quân | ||
|
690,000 VNĐ
|
740,000 VNĐ
|
|
599,000 VNĐ
|
1,450,000 VNĐ
|
|
215,000 VNĐ
|
550,000 VNĐ
|
|
1,850,000 VNĐ
|
584,000 VNĐ
|
|
1,185,600 VNĐ
|
650,000 VNĐ
|
|
690,000 VNĐ
|
2,660,000 VNĐ
|
|
895,000 VNĐ
|
350,000 VNĐ
|
|
208,000 VNĐ
|
1,500,000 VNĐ
|
|
1,550,000 VNĐ
|
432,000 VNĐ
|
|
160,000 VNĐ
|
340,000 VNĐ
|