
|
- Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất lắp ráp ôtô vẫn tăng mạnh mặc dù có tin Chính phủ muốn điều tiết mặt hàng này bằng các biện pháp tăng thuế suất thuế nhập khẩu, hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vay ngoại tệ nhập khẩu, sử dụng hàng rào kỹ thuật... Thủ tướng Chính phủ mới đây đã giao cho Liên bộ Tài chính - Công thương điều tiết hạn chế nhập khẩu các mặt hàng gồm ôtô nguyên chiếc dưới 12 chỗ ngồi và bộ linh kiện lắp ráp xe ôtô dưới 12 chỗ ngồi. Việc hạn chế nhập khẩu nhóm hàng trên được điều tiết bằng các biện pháp tăng thuế suất thuế nhập khẩu, hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vay ngoại tệ nhập khẩu, sử dụng hàng rào kỹ thuật hoặc áp dụng kết hợp các biện pháp trên. Theo các DN thì việc tăng thuế nhập khẩu linh kiện xe ôtô dưới 12 chỗ ngồi sẽ làm cho giá xe sản xuất, lắp ráp trong nước tăng. Ông Bùi Ngọc Huyên, Tổng giám đốc Vinaxuki (Nhà máy ôtô Xuân Kiên) cho biết, giá sắt thép và nguyên liệu tăng mạnh đã làm cho bộ linh kiện ôtô con tăng từ 5-10%. Nếu thuế suất thuế nhập khẩu bộ linh kiện tăng thì việc phải điều chỉnh giá xe là điều khó tránh khỏi. Tại Việt Nam, xe ôtô từ 12 chỗ ngồi trở xuống chủ yếu do các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) sản xuất và lắp ráp. Nhiều DN cho rằng việc tăng thuế sẽ làm ảnh hưởng tới sản lượng bán ra của họ. Tuy nhiên, theo nhận định của một DN ôtô thì việc tăng thuế nhập khẩu bộ linh kiện, sẽ đem lợi thế cạnh tranh hơn hẳn cho những mẫu xe có tỷ lệ nội địa hoá cao. Những mẫu xe có tỷ lệ nội địa hoá cao tức là có nhiều linh kiện sản xuất trong nước sẽ tránh được thuế nhập khẩu linh kiện cao và như vậy có điều kiện giữ giá bán thấp và đương nhiên cạnh tranh mạnh với những mẫu xe phải nhập khẩu 100% linh kiện về lắp ráp. Mẫu xe có tỷ lệ nội địa hoá cao nhất trong dòng xe từ 12 chỗ trở xuống hiện nay là Toyota Innova. Theo công bố của Toyota Việt Nam tỷ lệ nội địa hoá là 33% và sẽ nâng lên 37% trong năm 2008.
Mặc dù lo ngại về việc điều tiết, hạn chế xe ôtô của Chính phủ, nhưng các DN vẫn tin rằng về dài hạn thị trường ôtô Việt Nam rất tiềm năng. Năm 2007 thị trường ôtô đã đạt quy mô 100.000 xe/năm. Trong quý I/2008 mức tăng trưởng của thị trường ôtô ước tính gần gấp đôi so với quý I/2007. Theo ông Bùi Ngọc Huyên, thì mức tăng trưởng của thị trường xe du lịch năm 2007 so với năm 2006 là 100%, đây là con số rất ấn tượng. Vào năm 2010 sản lượng xe con sẽ đạt khoảng 100.000 xe/năm. Với quy mô thị trường như vậy các doanh nghiệp sẽ có điều kiện đẩy mạnh nội địa hoá, giảm giá cho khách hàng. Ngày 1/4/2008 Công ty Ford Việt Nam đã tuyên bố đầu tư thêm 10 triệu USD để mở rộng quy mô, tăng công suất sản xuất lên 35% với 9.500 xe/năm. Ông Michael Pease, Tổng giám đốc Ford Việt Nam cho biết, việc tăng thuế nhập khẩu linh kiện ôtô không ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng hoạt động sản xuất lắp ráp của Ford tại Việt Nam. Quý I/2008 Ford Việt Nam bán được 2.200 xe gần gấp 2 lần so với quý I/2007. Ông Pease cho biết Ford VN rất lạc quan về tiềm năng dài hạn của thị trường ôtô Việt Nam nên mới quyết định tăng vốn đầu tư tại đây. Toyota Việt Nam cũng cho biết, đang thực hiện đầu tư nâng công suất của nhà máy lên 25.000 xe/năm và 2009 là 30.000 xe/năm. Ông Nobuhiko Murakami Tổng Giám đốc Toyota Việt Nam cho biết, trong kế hoạch, Toyota Việt Nam sẽ đầu tư gần 30 triệu USD trong 2 năm tới. Kế hoạch này không bị ảnh hưởng và cũng không phải ngừng lại do chính sách hạn chế ôtô của Chính phủ. Bên cạnh các doanh nghiệp FDI, một số doanh nghiệp trong nước cũng đang xúc tiến đầu tư sang lĩnh vực sản xuất lắp ráp xe du lịch. Vinaxuki đã thuê 20ha đất tại Đông Anh (Hà Nội) để đầu tư sản xuất xe du lịch với số vốn là 930 tỷ đồng. Cùng với dự án sản xuất xe du lịch tại Hà Nội, Vinaxuki cũng đang tiến hành giải phóng mặt bằng 250ha đất tại Khu kinh tế Nghi Sơn (Thanh Hóa) để xây dựng nhà máy sản xuất linh kiện, phụ tùng và động cơ ôtô từ đó nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Tổng cộng tổng vốn đầu tư cho các dự án của Vinaxuki là 2.000 tỷ đồng và đến 2010 sản phẩm xe con sẽ được xuất xưởng.
|
|
1,848,000 VNĐ
|
1,969,000 VNĐ
|
|
299,000 VNĐ
|
1,590,000 VNĐ
|
|
1,550,000,000 VNĐ
|
200,200,000 VNĐ
|
|
399,000,000 VNĐ
|
1,170,000 VNĐ
|
|
182,600,000 VNĐ
|
235,000 VNĐ
|
|
300,000 VNĐ
|
145,000 VNĐ
|
|
260,000 VNĐ
|
152,000 VNĐ
|
|
635,000 VNĐ
|
220,000 VNĐ
|
|
200,000 VNĐ
|
295,000 VNĐ
|
|
265,000 VNĐ
|
250,000 VNĐ
|