|
Đến Sơn Tây mấy ai không ghé Đền Và - một trong những di tích nức tiếng của "vùng đất đá ong" cổ kính và bền bỉ. Đã ba bốn năm nay, ngôi đền thờ đức Thánh Tản này ngày càng đông khách thập phương ghé đến.
Rừng lim cổ thụ vẫn sững sững mở đường đón người vào thăm đền, bức tường bao bằng đá ong dầy đến 1,5m vẫn bền bỉ, rêu phong “khoanh vùng” khu di tích mà bên trong có cả cỏ dại mọc um tùm… Lời hứa về một cuộc trùng tu trị giá 24 tỷ đồng cũng đã "đặt chân" đến nơi này. Nhưng cho đến tận bây giờ - khi Đền Và đã là di tích của Hà Nội – ngôi đền linh thiêng vẫn mòn mỏi cùng ngói vỡ, cột gỗ mọt rỗng… chờ ngày được bảo tồn.
Đền Và thờ vị thần được ngưỡng kính trong tâm thức của muôn dân ngàn đời, đó là Đệ Nhất Phúc thần Tản Viên, vị tổ của bách thần, còn gọi là Nam Thiên Thần Tổ, vị thần trong Tứ Bất Tử của truyền thuyết nước Nam. Đây là một trong không nhiều ngôi đền có niên đại sớm nhất hiện còn ở Sơn Tây. Dựa vào văn bia (bài ký về cung trấn ở phía đông thuộc làng Vân Gia), dựng ở đầu hồi nhà tiền tế làm năm Tự Đức 36 (1883) của Đền Và thì đền đã xuất hiện từ thời nước ta thuộc ách đô hộ của nhà Đường. Đền Và đang lưu giữ 5 bản thần tích “Tản Viên Sơn Thánh”, 18 đạo sắc phong của các đời vua, trong đó có 17 bản chính có dấu ấn, 47 đôi câu đối được chạm khắc, viết trên vách cột, trên gỗ và 18 bức hoành phi viết trên gỗ hoặc đá. Nơi đây còn có 2 bia đá, 3 chuông đồng, 4 tấm biển gỗ. Trên những hiện vật đó khắc ghi thời gian xây dựng, tu sửa, ca ngợi cảnh quan, uy linh của Thánh Tản Viên với nhiều nét trang trí có giá trị mỹ thuật cao, thể hiện nét văn hóa tâm linh. Các bản thần tích, sắc phong, văn bia Đền Và rất giàu giá trị Hán-Nôm, trong đó có văn thơ của Nguyễn Khản, Nguyễn Thiện Kế, Trần Lê Nhân... Kiến trúc của ngôi đền linh thiêng này cũng là một vốn cổ quý giá với Nghi môn hiếm gặp trong kiến trúc truyền thống ở nước ta; tả vu, hữu vu với kết cấu kiểu tường hồi bít đốc, mặt trước có cột vuông trên nền tam cấp, để trống mặt trong; nơi thờ chính - một kiến trúc hình chữ công...
Đền Và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia từ năm 1964. Nhưng theo ông Phùng Văn Tuyến, một người cao niên trong làng cũng là chủ lễ ở Đền Và và là một trong hai “trưởng ca” (từ vẫn dùng để gọi người chịu trách nhiệm chính để trông coi, vệ sinh, phục vụ ở đền hằng ngày) thì: “Tôi sinh ra đúng vào năm trùng tu Đền Và 1930, từ bấy đến nay chưa thấy có thêm lần tu bổ nào. Đền bây giờ cần phải tu sửa nhiều lắm! Ngói thì vỡ, có lẽ cần phải thay lại toàn bộ, cột gỗ từ thời Tự Đức thì giờ rỗng bên trong, vỗ nhẹ tay vào là thấy tiếng…”. Hỏi ông về cái dự án trùng tu 24 tỷ đồng, ông thật thà – vốn bản tính của người nông dân: “Tôi cũng thấy nói đền được đầu tư 24 tỷ để trùng tu. Dự kiến là trùng tu nguyên bản, hỏng chỗ nào làm lại chỗ đó chứ không làm mới toàn bộ. Đầu tiên là làm Mi Môn. Cũng có lần tôi thấy người ta đem bản vẽ thiết kế xuống đây lấy ý kiến, nhưng nói thật, chúng tôi có nhìn vào bản vẽ cũng chẳng hiểu thế nào, chỉ biết là Đền Và được tu bổ. Nhưng từ bấy đến giờ cũng đã hơn 2 năm mà chẳng thấy khởi công gì cả. Chẳng hiểu mắc ở chỗ nào…”.
15 năm nay, ở đây luôn có khoảng 20 cụ, chia làm 2 ca “ứng trực” ngày đêm để trông coi khu đền. Ngoài việc quét tước, phục vụ việc lễ của khách thập phương, các cụ “không phải làm thêm bất cứ việc gì”. Các cụ được hưởng 10.000 đồng/ một ngày, tức là khoảng 300.000 đồng/ một tháng để làm việc này. Hội đền từ 14 đến 17 tháng Giêng nhưng từ mồng 1 tháng Giêng đến hết 3 tháng xuân, Đền Và luôn “đông như hội”, ngoài ra còn có những ngày mồng một đầu tháng và ngày rằm hằng tháng. Ông Tuyến nói: “Ban quản lý là người trên xã cơ! Mỗi ngày xã xuống mở két một lần thu tiền công đức về, có biên bản hàng ngày với chúng tôi. Tiền công đức từ đầu năm đến giờ cũng được hơn 1 tỷ đồng. Tôi không rành lắm về việc chi tiêu tiền này. Nhưng một phần xã chi cho ngày lễ hội, cho các thôn để sửa lễ trong hội, cho các đình chùa trong xã để trùng tu những hư hỏng”. Hỏi ông về chuyện “tái đầu tư” ở Đền Và, ông chẳng giấu: “Nếu hư hỏng gì thì làm đơn lên xã xin tiền tu sửa, nhưng từ bấy đến nay chúng tôi chưa xin lần nào!”. Chợt nhận thấy ở đây một “khoảng lặng” trầm và buồn về chuyện trùng tu, bảo tồn di tích và cả chuyện quản lý phát huy di tích. Chẳng lẽ một di tích cấp quốc gia với những kiến trúc độc đáo và giá trị lịch sử lâu năm như thế này lại cứ lặng lẽ yên vị với những gì đang tàn tạ dãi dầu cùng mưa nắng thời gian để đợi chờ một cơ hội bảo tồn "xứng tầm"?
Bây giờ, Đền Và đã là di tích của Hà Nội, góp tiếng vào chiều dài lịch sử của Thăng Long nghìn năm văn hiến. Đặc biệt là đến 1/9 này, tất cả các di tích của thành phố Sơn Tây sẽ “qui về một mối” trong sự quản lý của Ban quản lý Di tích và Danh thắng thành phố. Hy vọng chuyện bảo tồn, trùng tu, quản lý và phát huy di tích ở Đền Và sẽ không còn trong cảnh mỏi mòn chờ đợi.
(Theo KTĐT) |