|
| Ông Nguyễn Đình Cung. | |
|
Kể từ hôm nay (1/9/2008), tất cả ngành nghề kinh doanh và điều kiện kinh doanh không đảm bảo quy định tại điều 5, Nghị định 139/2007/NĐ-CP (hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN) chính thức hết hiệu lực.
Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương), Thư ký Tổ công tác thi hành Luật DN và Luật Đầu tư cho biết, Tổ sẽ cung cấp thông tin này cho bất cứ ai có nhu cầu.
Thưa ông, cụ thể phần việc mà Tổ công tác đã thực hiện là gì? Khả năng tiếp cận thông tin này như thế nào?
Tổ công tác đã tiến hành thống kê và lên danh sách tất cả văn bản quy phạm pháp luật có quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, các loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện tương ứng, cách thức thực hiện cũng như hình thức thể hiện các điều kiện kinh doanh còn hiệu lực đến hết tháng 7/2008.
Hơn 400 loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện tương ứng được tìm ra từ 430 văn bản, trong đó có 43 luật, pháp lệnh, 108 nghị định, số còn lại là thông tư, quyết định của các bộ, ngành, địa phương. Có thể nói, đây là lần tập hợp đầy đủ nhất, là căn cứ tốt nhất để các bộ, ngành, các địa phương thực hiện công tác rà soát, đánh giá một cách thuận lợi nhất. Danh sách này sẽ giúp các cơ quan đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp biết rõ các loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện tương ứng để thực hiện.
Toàn bộ danh sách này hiện lên tới 1.000 trang. Chúng tôi sẵn sàng cung cấp cho bất cứ ai có nhu cầu. Mọi liên hệ có thể qua hộp thư điện tử kimchi@ciem.org.vn. Hiện tại, các tỉnh phía Nam đã có được danh sách này.
Có bao nhiêu điều kiện kinh doanh hết hiệu lực do không đủ tính hợp pháp theo quy định của điều 5, Nghị định 139/2007/NĐ-CP, thưa ông?
Việc rà soát đơn thuần về tính hợp pháp cho thấy, 55 ngành nghề kinh doanh mà cả tên ngành nghề và điều kiện kinh doanh đều không được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ. Theo quy định tại điều 5, Nghị định 139/2007/NĐ-CP, các điều kiện kinh doanh của ngành nghề này đương nhiên hết hiệu lực.
Ngoài ra, 25 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, song lại không có quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh. 84 loại ngành nghề kinh doanh có tên trong văn bản luật, pháp lệnh, nghị định, nhưng điều kiện kinh doanh lại được quy định ở thông tư, quyết định của các bộ. 28 ngành nghề kinh doanh mặc dù có đủ các điều kiện theo quy định tại điều 5, Nghị định 139/2007/NĐ-CP, song ở thông tin, quyết định của các bộ lại đặt thêm các điều kiện bó chặt hơn so với các điều kiện quy định tại các văn bản luật, pháp lệnh, nghị định.
Vấn đề đặt ra là, mặc dù số các ngành nghề kinh doanh, điều kiện kinh doanh có vấn đề về mặt pháp lý khá lớn, song hơn một năm qua, số lượng các bộ, ngành chủ động rà soát và tiến hành loại bỏ các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính không cần thiết rất ít. Bộ Xây dựng là một trong những cơ quan quản lý nhà nước đi đầu trong hoạt động này. Tuy đã có nhiều hội thảo liên quan tới rà soát, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính không cần thiết, song kết quả đến nay vẫn chưa được công bố.
Có thể nói, để đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật vào thời điểm ngày 1/9/2008 theo quy định của Nghị định 139/2007/NĐ-CP, Tổ công tác đã làm được một phần việc quan trọng là rà soát và liệt kê. Vậy, phần việc tiếp theo sẽ là của các bộ, cơ quan quản lý nhà nước về ngành nghề có điều kiện?
Trách nhiệm trước hết là của các bộ, ngành quản lý. Có ý kiến cho rằng, trong số các điều kiện kinh doanh không hợp pháp, rất nhiều điều kiện kinh doanh cần thiết. Đây là phần trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về các ngành nghề này. Nếu như các cơ quan chứng minh được sự cần thiết của các điều kiện kinh doanh, của các ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì điều cần phải làm là bổ sung tính hợp pháp cho các quy định đó. Còn nếu không, bất cứ quy định nào không hợp pháp đều phải bãi bỏ.
Tôi cho rằng, các cơ quan quản lý nhà nước cần nâng cao trách nhiệm trong lĩnh vực này. Với tư cách tư vấn, Tổ công tác sẽ tiếp tục phân tích cả tính hợp pháp, hợp lý và tính thân thiện của các quy định, thủ tục hành chính. Mục tiêu của Tổ công tác là phục vụ cải cách thủ tục hành chính theo Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ.
(theo Đầu tư) |