
|
| |||
Học theo trào lưu Hà đang học tiếng Trung ở một trường ngoại ngữ tâm sự: “Mình chọn tiếng Trung vì nghe nói bây giờ học nó rất dễ xin việc. Thế nhưng học rồi mới biết hình như tiếng Trung nó không hợp với mình. Mình không có khả năng học ngoại ngữ. Dù cố gắng nhưng mình vẫn không thể theo kịp các bạn ở trên lớp đặc biệt là khâu nói và nghe. Nhiều lúc cũng muốn bỏ quách để thi vào một trường kinh tế có khoa kế toán cho hợp với sở thích và khả năng của mình. Nhưng đã học đại học 2 năm, kiến thức cơ bản cấp 3 còn là bao, nếu thi làm sao đọ được với các em cấp 3 kiến thức vẫn còn mới, chắc chắn sẽ trượt”. Học tiếng Trung đã hai năm, nhưng Hà không đủ tự tin để giao tiếp cơ bản, vì hai năm vừa rồi, cô học không hứng thú. Học chỉ để cho qua. Học sao để cố không học lại, thi lại. Hà phàn nàn: “Giờ đi xin việc ở đâu họ cũng cần bằng khá, bằng giỏi. Trong khi mình thì điểm tổng kết 4 kì học vừa rồi chưa đủ nổi 7,0. Năm nay lại học toàn môn chuyên ngành, không biết mình có kham nổi không… Hi vọng không phải học lại môn nào”. Dạo gần đây, nghề PR cũng là nghề “hot”. Vậy là lại có không ít bạn đổ dồn vào để thi ngành này. Không cần biết là khả năng giao tiếp, quan hệ cộng đồng của mình không ổn. Không cần biết là sức khỏe của mình không phù hợp để theo nghề này. Vậy là học thì cứ học, nhưng định hình sau này ra trường mình sẽ làm cái gì, sẽ đủ khả năng để xin việc vào đâu, thì họ không nghĩ (hay đúng hơn là không dám) nghĩ tới. Hùng (SV Báo chí) cũng đâm đầu thi vào ngành báo chí vì thấy ngành này hợp mốt, nhưng gần tốt nghiệp rồi mà không thẻ nghĩ là mình có thể trở thành phóng viên. Chỉ vì đơn giản, học chán học chê mà thấy mình không thể viết lách được. Thực tập cũng chỉ quấy quá cho xong, rồi xin bài cho đủ chỉ tiêu. “Biết thế ngày trước mình thi sư phạm ngoại ngữ. Vẫn thích làm giáo viên dạy tiếng Anh, nhưng cứ ngượng khi bọn bạn trêu ai lại làm giáo viên. Vậy là cắm đầu thi vào một ngành đang “mốt” rồi thấy không hợp”. Khi được hỏi ra trường bạn mong muốn được làm ở đâu Hà nói luôn: “Mình cũng không biết, với kết quả học tập như bây giờ khéo mình chẳng xin vào được đâu mất. Mình không cả dám nghĩ đến tương lai”. Học cho bố mẹ
Một phần vì sức ép của gia đình, bố mẹ đâu phải ai cũng muốn con cái mình mạo hiểm, vứt bỏ tất cả để chạy theo những cái mà họ cho là “phù du”. Bố mẹ đang có một công việc tốt, một vị trí tốt. Nên họ cũng mong con cái có được công việc giống như họ, bằng chính những mối quan hệ do họ dày công xây dựng từ lâu. Nga (ĐH Sư phạm) kể: “Có lần mình vừa đề xuất với bố mẹ sẽ thi thêm một trường đại học nếu đỗ mình sẽ chuyển sang đó học, mình thấy không thích hợp với nghề sư phạm này thì bố mẹ đã nói: “Lo mà học cho tốt đi, đừng mơ mộng viển vông, kì này cô mà không được trên 7,5 thì chết với tôi”. Bố mẹ thừa biết sức học của mình, điểm ở lớp có bao giờ được từng ấy”. Nhiều người tiếp tục kéo dài sự mệt mỏi của bản thân vì một lý do hết sức muôn đời: “Nhà mình có người làm ở chỗ A, chỗ B sau khi ra trường thể nào cũng có việc ngay. Tội gì bỏ dở rồi sau chẳng biết mình đi đến đâu”. “Chán” - có lẽ đó là tâm trạng chung của những bạn đang ở trong hoàn cảnh này. Họ không thể từ bỏ được cái gai đang làm nảy sinh trong họ sự chán chường, họ cứ loay hoay mãi rồi dẫn đến kết quả học tập sút kém và tương lai dường như là một khái niệm xa vời. “Có những hôm chán, hết tiết 1 thầy vừa điểm danh xong thì mình bùng học luôn. Ngồi ở lớp thì cũng chỉ ngái ngủ, ngáp ngắn ngáp dài làm ảnh hưởng đến mọi người. Thôi thì lấy xe đến một quán cà phê nào đó, ngồi một mình cho thoải mái, đỡ bị săm soi”, Nga thở dài. Hỏi về tương lai, cô cười nói: “Cái đó hiện tại mình cũng chưa rõ, nhưng bố mẹ mình đã nhắm cho mình một chỗ làm ổn định… Nhưng nói thật mình cũng không chắc sau này sẽ đủ tự tin để trở thành một giáo viên tốt đâu”. Cuộc sống và cả công việc của những bạn như Nga đều đã được lập trình sẵn. Học không hứng thú. Sau đó là làm một công việc không yêu thích. Họ sẽ có cái gì là cho mình, để đam mê theo đuổi? Lương Ngọc | |||
|
145,000 VNĐ
|
99,000 VNĐ
|
|
105,000 VNĐ
|
400,000 VNĐ
|
|
860,000 VNĐ
|
1,000,000 VNĐ
|
|
99,000 VNĐ
|
450,000 VNĐ
|
|
200,000 VNĐ
|
270,000 VNĐ
|
|
350,000 VNĐ
|
260,000 VNĐ
|
|
245,000 VNĐ
|
119,000 VNĐ
|
|
245,000 VNĐ
|
225,000 VNĐ
|
|
190,000 VNĐ
|
520,000 VNĐ
|
|
350,000 VNĐ
|
235,000 VNĐ
|