|
- Bà Nguyễn Thị Hải Vân, Phó Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Giám đốc Trung tâm Dự báo quốc gia và thông tin thị trường lao động nhận định, năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp vẫn có thể sẽ cao hơn cả năm trước. Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, đến cuối năm 2009, cả nước đã có 133.262 lao động bị mất việc làm - chiếm 18% lao động làm việc trong các doanh nghiệp (DN) có báo cáo, chưa kể 40.348 lao động ở các làng nghề bị mất việc làm và khoảng 100.000 người phải giảm giờ làm, nghỉ luân phiên.
Báo cáo "Xu hướng việc làm Việt Nam" do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của những người trong độ tuổi 15 đến 24 tăng mạnh từ 4,7% lên 6% trong khoảng thời gian từ 1997-2007. Vấn đề việc làm thanh niên càng trở nên quan trọng khi tính tới yếu tố tăng trưởng nhờ dân số.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Hải Vân, Phó Cục trưởng Cục Việc làm.
 |
| Bà Nguyễn Thị Hải Vân, Phó Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Giám đốc Trung tâm Dự báo quốc gia và thông tin thị trường lao động. | Lao động có nhiều cơ hội việc làm hơn Xin bà cho biết nhận định về tỷ lệ thất nghiệp trong năm 2010?
Mặc dù nền kinh tế đang bắt đầu phục hồi, các doanh nghiệp đã nhận được nhiều đơn hàng. Nhưng theo nhận định của chúng tôi thì tỷ lệ thất nghiệp trong năm 2010 có thể bằng hoặc cao hơn năm trước. Tại sao tỷ lệ thất nghiệp lại gia tăng trong khi nhiều doanh nghiệp “khát” lao động, thưa bà? Sau thời kỳ khủng hoảng, thất nghiệp thì thanh niên (lực lượng lao động chủ chốt) chưa tìm được việc làm đã tiếp tục tham gia vào việc học hành, các khóa đào tạo nghề để hy vọng kiếm được một công việc tốt hơn, nên thời gian học hành, học nghề của họ bị kéo dài ra. Do đó, họ sẽ là lực lượng làm tăng thêm số lượng lao động chưa có việc làm.
Mặt khác, do kinh tế đã phục hồi, các khu công nghiệp, các nhà máy mọc lên nhiều nên người lao động đã có nhiều cơ hội để lựa chọn. Yêu cầu về việc làm cũng cao hơn: điều kiện, môi trường, lương, nhà ở… Còn trước đây, thì nhu cầu của lao động ít hơn, cứ có công việc là làm, kể cả lương thấp họ cũng chấp nhận.
Ngoài ra, hiện nay nhiều lao động không còn mặn mà làm công nhân của các nhà máy, khu công nghiệp vì đã có hiện tượng lao động bỏ nhà máy để quay lại khu vực làng nghề, làm dịch vụ hoặc khu vực phi chính thức như buôn bán nhỏ, giúp việc gia đình… với mức thu nhập tới 80.000 - 120.000 đồng/ngày mà không bị ràng buộc, yêu cầu về trình độ. Trong khi đó, làm công nhân cho các nhà máy, khu công nghiệp… chỉ được nhận mức lương trung bình có 1 - 1,5 triệu đồng/tháng, không đủ đảm bảo cuộc sống.
Nâng lương, giữ chân người lao động
Bà có thể lý giải tại sao các doanh nghiệp ở phía Nam thường thiếu lao động trầm trọng sau kỳ nghỉ Tết?
Do trước đây, miền Bắc có ít khu công nghiệp nên lượng lao động phải kéo vào Nam làm việc lớn. Bây giờ, sau khi về Bắc, nhất là sau kỳ nghỉ tết thì họ không muốn trở vào miền Nam vì ngay trên địa phương họ cũng đã có khu công nghiệp. Họ sẽ ở lại làm việc ngay tại địa phương hoặc các vùng lân cận, không phải xa nhà, đi lại đỡ tốn kém…và mức lương của các doanh nghiệp ở miền Nam cũng không cao. Do vậy, dẫn tới tình trạng, sau mỗi kỳ nghỉ tết, các doanh nghiệp phía Nam lại thiếu thụt một lượng lao động lớn do công nhân không quay trở lại làm việc.
Vậy theo bà các doanh nghiệp phải làm gì để giải quyết tình trạng này?
Theo tôi, các doanh nghiệp phải điều chỉnh lại mức lương cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu để lao động gắn bó với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần tăng cường các chính sách như hỗ trợ về nhà ở, ký túc xá, nâng mức tiền thưởng, tiền làm tăng ca, tăng giờ cho công nhân để giữ chân. Ngoài ra là phải mở rộng mạng lưới thông tin để nhu cầu của DN về lao động đến được nhiều người và ngược lại thông qua các kênh giới thiệu việc làm, các trang web về việc làm.
Xin cảm ơn bà!
Kim Thảo
|