Các tin nổi bật
Từ khóa thông dụng
Kinh tế - Nếu nhận dạng đúng, chống lạm phát sẽ thành công

Nếu nhận dạng đúng, chống lạm phát sẽ thành công

Cập nhật: 18/06/2008 - 20:14 - Nguồn:
Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ

Bài viết đăng tải trên website của NHNN ngày 18/6.

Trong bài đăng trên chuyên mục nghiên cứu trao đổi của website Ngân hàng Nhà nước ngày 18/6,  TS Nguyễn Đại Lai - Phó Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước cho rằng tuy lạm phát ở VN đang cao nhưng nếu nhận dạng đúng, thiết lập và áp dụng đồng bộ các chính sách thì chống lạm phát sẽ thành công.
 
VnMedia xin trích đăng bài viết này:
 
“Đến hết tháng 5/2008, lạm phát ở Việt Nam đã là 15,96% so với 31/12/2007 và 25% so cùng kỳ năm trước - Mức cao nhất trong 15 năm qua kể từ 1993!...
Lạm phát ở Việt Nam đến thời điểm này, hiện đang cao nhất khu vực, bất chấp các nước khác có cùng điều kiện quốc tế khách quan chung, nhưng dù cao như Trung Quốc cũng chỉ nhỉnh hơn 1/3 của Việt Nam (8,5% của Trung Quốc so với 25% của VN so cùng kỳ), phần lớn các nước khác như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore…tính đến nay CPI của họ chỉ “cao” bằng ¼ của Việt nam!

Lạm phát với tốc độ cao đang là “điểm nóng” và chống lạm phát đang là nhiệm vụ ưu tiên số một của Chính Phủ trong quản lý nền kinh tế quốc dân. Vậy nhận dạng lạm phát ở Việt nam hiện nay như thế nào? Những nguyên nhân khách quan và chủ quan nào dẫn đến lạm phát? Các cân đối vĩ mô ra sao? Có thể chống lạm phát được không? Chống lạm phát bằng cách nào? là những vấn đề rất nhức nhối mà bài viết này muốn cố gắng góp phần tìm các câu trả lời.

Lạm phát tăng quá cao như hiện nay là do 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu: Nhập khẩu lạm phát; Tổng phương tiện thanh toán tăng cao quá mức và Hiệu quả đầu tư rất kém gây mất cân đối vĩ mô nói chung và bất ổn khu vực tài chính nói riêng. …

Về các giải pháp kiềm chế lạm phát, một loạt giải pháp của Chính phủ, các Bộ ngành để chống lạm phát bao gồm cả sự “đánh đổi” một phần chỉ tiêu tăng trưởng dự kiến mới được công bố gần đây là rất đáng quan tâm. Đó là một quyết tâm chính trị rất cao. Tuy nhiên, để kiềm chế lạm phát, cần phải nhận dạng lạm phát dưới nhãn quan của các quy luật của kinh tế thị trường.

Trong thực tế, một số chính sách đã từng được ban ra như: Hy sinh nguồn thu NSNN để giảm thuế cho một danh sách 18 nhóm mặt hàng nhập khẩu từ quí 3/2007; Siết chặt hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán vào cuối năm 2007; Khống chế trần lãi suất huy động; Khống chế biên độ tỷ giá; Khống chế biên độ dao động của giá cả chứng khoán trên TTCK bằng những mệnh lệnh đã ban ra trong những tháng đầu năm 2008 v.v… đã không cho kết quả cao.

Vì vậy, điều quan trọng nhất của mọi chính sách nhằm chống lạm phát và ổn định thị trường tài chính (TTTC) phải là phân tích, dự báo, nhận dạng đúng, đưa ra lộ trình thích hợp, tôn trọng và phát huy tốt nhất những quy luật thị trường; Thiết kế chính sách phải tác động vào cung và vào cầu của nền kinh tế, chứ không thể cứ vô tư “nhè” thẳng vào những điểm nhạy cảm mà nhờ có nó cơ chế thị trường mới vận hành được như:Giá cả, cạnh tranh, minh bạch, uy tín và lòng tin...để “đánh” là được.

Với những phân tích nêu trên, tôi xin kiến nghị hai nhóm giải pháp để chống lạm phát cấp bách và ổn định khu vực tài chính như sau:

Nhóm 1: Những giải pháp về chính sách tác động vào cung hàng hoá, dịch vụ:

Nhóm này bao gồm những giải pháp cụ thể: Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, thậm chí ra lệnh chuyển đầu tư mạnh vào khu vực sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ cho tiêu dùng; Khuyến khích áp dụng công nghệ, nâng cao năng suất lao động, coi trọng, thậm chí ra chính sách cải thiện thu nhập của người lao động, thu hút nhân tài vào lĩnh vực quản lý và chế tạo; Khuyến khích thiết lập kênh phân phối hợp lý trong các ngành cung ứng hàng hoá, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp; Ngăn chặn và giám sát chặt các hành vi đầu cơ các loại hàng hoá thiết yếu, chiến lược; Siết chặt các dự án đầu tư được coi là chưa cấp bách hoặc chưa trực tiếp tạo ra nguồn hàng hoá thiết yếu cung ứng theo nhu cầu thị trường; Giám sát minh bạch các kênh chi tiêu công, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng về giá cả và các điều kiện tiêu thụ sản phẩm giữa các khu vực kinh tế: tư nhân, Nhà nước, FDI...

Nhóm 2: Những giải pháp về chính sách tác động đến cầu:

Những chính sách tác động vào cầu gồm: Chính sách thắt chặt tiền tệ có phối hợp với chính sách tín dụng là cần thiết hiện nay. Bởi lẽ, khi lạm phát leo thang, tín dụng phát triển nóng, đặc biệt là tín dụng vào các khu vực không tạo ra hàng hoá tiêu dùng như lĩnh vực bất động sản, lòng vòng “trên lưng”nội bộ thị trường tài chính, “mặt bằng” bỏ hoang, hoặc đầu cơ vào hàng hoá chiến lược tạo sốt giả sẽ đẩy lạm phát lên cao, do đó phải dùng công cụ của chính sách tiền tệ (CSTT) để kiểm soát chặt chẽ tốc độ gia tăng tín dụng.

Theo đó, ngay sau khi dỡ bỏ “trần lãi suất huy động” phải đi đôi với việc cải cách lại nội hàm và vai trò can thiệp có hiệu lực của lãi suất cơ bản, của các kênh bơm, hút tiền, đặc biệt là kênh nghiệp vụ thị trường mở; Phải dùng chính sách tín dụng để kiểm soát cơ cấu đầu tư, lĩnh vực đầu tư. CSTT thắt chặt nhưng phải tính đến việc giảm cung tiền nếu áp dụng chung chung, không được kết hợp với các giải pháp bổ trợ khác, sẽ tạo ra sự bất bình đẳng đối với các khu vực kinh tế trong nước.

Tình hình lạm phát của Việt Nam đang đặt ra yêu cầu kiểm soát chi tiêu công mạnh mẽ hơn. Đã đến lúc Chính phủ phải tiếp tục tăng cường giám sát quyết liệt về tiến độ hoàn thành những dự án kết cấu hạ tầng dở dang, không đầu tư dàn trải và phải có chỉ tiêu “đo đếm” hiệu quả đầu tư các dự án, đặc biệt là các “đại công trường” ở các tỉnh, thành phố, kể cả việc phải kiểm soát và siết lại cơ chế “trải thảm đỏ” mời gọi nhà đầu tư nước ngoài một cách thái quá, phi hiệu quả kinh tế - xã hội. Nhà nước cũng cần phải sớm có Luật “Kiểm toán” để buộc các đơn vị kinh tế phải có báo cáo hoạt động và báo cáo tài chính qua kiểm toán độc lập để tạo ra ngày càng nhiều khách hàng có độ tin cậy cao đối với Ngân hàng. Tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ theo hạn mức hợp lý từng năm về loại trái phiếu thời hạn dài trên 10 năm tới 30 năm với lãi suất công bố theo từng giai đoạn 1 năm, hoặc 2 năm /lần phù hợp với mặt bằng lãi suất thị trường và tôn trọng nguyên tắc không để người đầu tư bị thiệt thòi hơn gửi tiết kiệm 12 tháng và/hoặc 24 tháng cùng giai đoạn

NHNN dùng cơ chế hành chính buộc các NHTM phải trích một tỷ lệ vốn huy động đủ an toàn để đầu tư vào chứng khoán nợ của Chính phủ và lưu ký tại NHTW để làm công cụ tham gia thị trường mở của NHNN khi cần khắc phục rủi ro thanh khoản và thay cho việc NHNN phải dùng tín phiếu của chính mình khi cần hút tiền vào; Uỷ Ban CKNN phải có chính sách buộc các Tổ chức kinh tế có phát hành chứng khoán vốn trên bất kỳ thị trường nào đều phải trả cổ tức bằng tiền cho cổ đông và phải giám sát chặt chẽ các hoạt động kinh doanh chứng khoán trên cả thị trường có tổ chức và thị trường chưa có tổ chức; Khuyến khích khu vực sản xuất, dịch vụ có sử dụng thiết bị nhập khẩu giá trị lớn thì có cơ chế chặt chẽ cho phép phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước để thanh toán mua hàng nhập ở nước ngoài, đồng thời áp dụng cơ chế mua đứt bán đoạn ngoại tệ dưới nhiều hình thức thay dần cơ chế tín dụng ngoại tệ tràn lan như hiện nay nhằm tạo nguồn ngoại tệ ngay từ trong nước để đáp ứng nhu cầu mua thiết bị, vật tư thiết yếu cho sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ trong nước; NHNN cần đề xuất cơ chế kiểm soát và nghiêm cấm việc tự do bán, thanh toán ngoại tệ của cá nhân, Đại lý ngoài NHTM.

Cần thiết lập một cách minh bạch chính sách ngoại hối, trong đó phải khẳng định: trong nền kinh tế chỉ có 3 đối tượng được mua ngoại tệ tại Ngân hàng được phép với mức và điều kiện chặt chẽ gồm: người nhập khẩu; Người cư trú ra nước ngoài hoặc đầu tư ra nước ngoài theo giấy phép; Người không cư trú chuyển lợi nhuận hoặc rút tiền của mình về nước. Việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt nguyên tắc: chỉ tiêu tiền Việt Nam. Mọi hành vi mua, bán ngoại tệ, hoặc thanh toán bằng ngoại tệ ở nơi không được cấp phép là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý nghiêm minh từ phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự. NHNN cũng cần có cơ chế giám sát chặt chẽ việc xuất, nhập khẩu và buôn bán vàng thoi trên thị trường vàng; Đối với lĩnh vực sản xuất hàng hoá vật chất và dịch vụ ở mọi thành phần kinh tế cần được khuyến khích mạnh mẽ thông qua chính sách thu hút đầu tư, thu hút nhân tài, chính sách thuế và chính sách phát triển thị trường của Nhà nước.
 
Ngoài ra, về giải pháp chiến lược, Nhà nước cần sớm có chỉ đạo để sớm chuyển mô hình và cơ chế hoạt động của NHNN VN đang gần giống một Bộ quản lý hành chính trong Chính phủ như hiện nay sang mô hình và cơ chế hoạt động của một NHTW thực sự nhằm nâng cao trách nhiệm chống lạm phát thông việc phát hành tiền và năng lực xây dựng, điều hành CSTT của NHTW theo cơ chế thị trường.
 
Tóm lại: TTTC cũng giống như mọi thị trường hàng hoá khác đều vận động theo các qui luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu và theo các nguyên tắc “bình thông nhau”, “nước chảy chỗ trũng”v.v... Vì vậy, để chống lạm phát và ổn định khu vực tài chính, các chính sách chỉ nên tác động vào cung và vào cầu nhằm tạo ra dung lượng và chất lượng hàng hoá phù hợp với khả năng thanh toán của nền kinh tế
 
Tuy lạm phát ở VN đang cao, các cân đối vĩ mô đang bất bình thường, nhưng nếu nhận dạng đúng, thiết lập và áp dụng đồng bộ các chính sách, trong đó khâu nào, việc nào cần mệnh lệnh hành chính thì nhất thiết phải dùng quyền lực “cai trị” của Nhà nước để can thiệp kịp thời, đúng lộ trình và nghiêm ngặt; khâu nào, hoạt động nào thuộc về qui luật của thị trường thì nhất thiết phải tôn trọng, thậm chí kích thích các qui luật thị trường phát huy tác dụng thì không những các cân đối vĩ mô cũng được lập lại phù hợp, mà việc ổn định TTTC, kiểm soát và chống lạm phát cũng sẽ thành công! ”

PV

Từ khóa liên quan đến bài viết: Nếu nhận dạng đúng, chống lạm phát sẽ thành công

thị trường,

đầu tư,

,

lạm phát,

chính sách,

chính,

cơ chế,

hàng hóa,

phát,

chống lạm phát

Các tin khác:
Mới cập nhật
Tin cùng ngày