|
|
|
Thầy Hồ Ngọc Mỹ | Đường Trường Sơn huyền thoại manh nha hình thành cũng là lúc đồng bào dân tộc Pa Cô - Tà Ôi sinh sống trên dải Trường Sơn hùng vĩ có chữ viết riêng. Giữa đại ngàn Trường Sơn một buổi chiều cuối tuần êm ả trong màn sương lạnh, chúng tôi đã được gặp và nghe thầy Hồ Ngọc Mỹ kể về những năm tháng mày mò sáng chế bộ chữ cho đồng bào dân tộc Pa Kô- Tà Ôi.
Người thầy đầu tiên của núi rừng
Thầy Hồ Ngọc Mỹ (tức thầy Ku Nô) sinh năm Ất Sửu (1925), nhiều thầy tướng số bảo tuổi ấy khổ. Nhưng Thầy Mỹ không tin. Chả gì dạo ấy những năm 1945, ở làng Phổ Lại, Quảng Vinh, Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế) dù chỉ học đến trình độ chỉ mới ngang cấp một và đứng lớp ở trường làng, vậy nhưng thầy giáo Hồ Ngọc Mỹ vẫn là người rất hiếm hoi có “trình độ” được cách mạng giao nhiệm vụ dạy lớp bình dân học vụ xoá mù chữ cho người dân. Từ đó mà nhiều người nông dân đã biết đến mặt chữ. Với thành tích phổ cập mù chữ, ngày 20/6/1945, Hồ Ngọc Mỹ vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Năm 1947, khi mặt trận Huế vỡ, ông được tổ chức Đảng phân công nhiệm xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng núi phía Tây Trị - Thiên mà chủ yếu là ở huyện A Lưới. Ngày đầu đến một vùng đất lạ, cậu con trai 23 tuổi người Kinh dường như choáng ngợp trước một A Lưới nắng cháy da, bạt ngàn rừng và gió cũng bạt ngàn thổi... Anh trở thành người xa lạ như đến từ “hành tinh khác” trong con mắt của những người dân tộc Pa Kô gồm Tà Ôi, Pa Hy, Cờ Tu bởi khi ấy họ còn sống như hoang dã, rải rác trong các bản làng heo hút. Người ta cà răng, căng tai. Trẻ già, trai gái đều hút thuốc lá bằng những cái tẩu dài ngoẵng như cổ cò, uống rượu cần, múa may thâu đêm bên cạnh những xác chết chưa chôn... Những hủ tục ấy như màn đêm đắm chôn bao kiếp người. Tôi nhắm mắt lại, cố hình dung hình ảnh chàng thanh niên trẻ sẽ làm như thế nào khi đồng bào Pa Cô - Tà Ôi cứ nhất định chỉ biết tính tuổi theo mùa rẫy, lấy lá rừng làm bát đựng thức ăn, đàn bà con gái không đủ váy mặc, thanh niên đóng khố bằng lá dăm - lo…
 |
|
Thầy Ku Nô và người vợ thuỷ chung. | Đặc biệt, giữa anh và 99% đồng bào không hiểu tiếng nói của nhau, số còn lại, chủ yếu những gia đình khá giả biết tiếng Kinh thì việc phân tích “không phải cứ có cái chữ ở trong đầu là phải đi lính” là một điều không tưởng. Vậy mà chỉ sau ba tháng, thầy Mỹ đã thuộc làu ngôn ngữ của người dân bản địa. Nhiệm vụ Ðảng giao cho thầy giáo trẻ là vận động mọi người ở đây sống văn minh và dạy chữ quốc ngữ để họ có thể tiếp xúc những tài liệu tuyên truyền của cách mạng. Nhưng thực hiện không phải điều dễ dàng. Bây giờ nhớ lại, hồi đó khó khăn chồng chất khó khăn những niên học đầu trống trước vắng sau, thầy Ku Nô vẫn tận tình bằng tấm lòng người Kinh xem người Pa Cô - Tà Ôi là anh em như lời Bác Hồ dạy “Kinh Thượng là một”. Lần hồi rồi khó khăn cũng dần qua, lớp học đông dần. Sự tận tuỵ đến quên thân của anh giáo người kinh ngày ấy được bù lại bằng sự quý mến, yêu thương của học trò, phụ huynh. Người dân tự nguyện hiến nhà ở làm trường lớp, lấy cật tre vót nhọn làm bút châm lên lá chuối rừng thay vở chép lại từng chữ thầy giáo viết bằng đất vàng trên tấm bảng gỗ phết lõi pin. Năm 1957, chiến dịch chống nạn mù chữ cho đồng bào Pa Cô- Tà Ôi thông qua phong trào “bình dân học vụ” do thầy Ku Nô khởi sướng phát triển mạnh. Nhưng thầy Ku Nô vẫn thấy buồn khi dạy câu ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen- Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng” mọi người thuộc làu và nhớ mặt từng con chữ nhưng khi hỏi nghĩa thì ai cũng lắc đầu… Trăn trở, thầy Ku Nô phát hiện, trong cách phát âm của đồng bào Pa Kô- Tà Ôi có những thanh điệu không thể ghi lại bằng mẫu tự tiếng Việt. Vì vậy, phải dùng mẫu tự Latinh phiên âm hay đặt dấu, soạn thêm ký tự diễn đạt ngôn ngữ. Thầy Ku Nô, giảng giải: “đối với những mẫu tự người Pa Cô- Tà Ôi không ghi lại được bằng tiếng Việt, tôi cùng hai người học trò xuất sắc, cũng là đồng nghiệp dạy bình dân học vụ là Ku Pống và Ku Trích quyết định sáng chế dấu chấm lửng. Như chữ ơ ghi dấu ươ, chữ ố ghi dấu uô… Từ ý tưởng trên, ba thầy trò chúng tôi đã xin phép Tỉnh ủy biên soạn bộ chữ Pa Cô- Tà Ôi vào năm 1958”. Có chữ là có tất cả Từ bộ chữ Pa Cô - Tà Ôi vừa sáng chế, ngay lập tức thầy Ku Nô tổ chức lớp học “nguồn” để đào tạo, bồi dưỡng về sự khác biệt thanh điệu cho đồng nghiệp. Lớp học kết thúc, 20 giáo viên nhanh chóng tỏa về các bản làng dạy bộ chữ Pa Cô - Tà Ôi cho đồng bào. Một tháng rồi một năm sau, phong trào học chữ quốc ngữ thông qua bộ giáo trình Pa Cô - Tà Ôi làn ra cả vùng rừng núi hai huyện A Lưới và ĐaKrông - nơi có đồng bào dân tộc Pa Cô - Tà Ôi cư trú sinh sống. Thừa thắng xông tới, thầy Ku Nô đã dùng bộ chữ này để viết khẩu hiệu, đặt bài hát, sáng tác hò vè... để tuyên truyền cách mạng với quần chúng. Con em người Tà Ôi đi bộ đội, đi thanh niên xung phong đã dùng bộ chữ này để viết thư về thăm gia đình. Thân thiết, gắn bó, người Tà Ôi gọi ông là KON KU NÔ (nghĩa là cha thằng cu Nô, vì Nô là tên cúng cơm thằng con trai thứ hai của ông).
 |
|
Sự khác biệt giữa ngôn ngữ Việt và Pa Cô- Tà Ôi do thầy Ku Nô phát hiện trong quá trình dạy chữ quốc ngữ cho đồng bào dân tộc sinh sống trên dải Trường Sơn hùng vĩ. | Thầy Ku Nô, xúc động: “Năm 1959, đồng bào Pa Cô- Tà Ôi đều đã đọc thông, viết thạo chữ quốc ngữ thông qua bộ giáo trình mới. Đặc biệt, họ rất tự hào và sung sướng khi nghĩ rằng, người Kinh văn minh hơn họ là nhờ có chữ. Bây giờ có chữ riêng, họ biết ơn Đảng và Bác Hồ đã soi đường chỉ lối… Họ sẽ có tất cả. Vì vậy, nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng của mình cho đồng bào vô cùng thuận lợi. Minh chứng rõ nét nhất là số con em Pa Cô - Tà Ôi thoát ly theo cách mạng ngày càng đông vì người đi trước động viên người đi sau bằng việc viết thư thăm hỏi gia đình bằng chính chữ viết của dân tộc mình”. Ngoài 35 tuổi, ông Hồ Ngọc Mỹ mới lấy vợ. Ðó là bà Lê Thị Nhỏ, người cùng quê lên A Lưới công tác ở Hội Phụ nữ. Hạnh phúc đến với họ chỉ được nhiều năm đầu, khi ba đứa con lần lượt ra đời. Nhưng nỗi bất hạnh của vợ chồng ông cũng như nhiều người khác từng sống ở A Lưới, ASo miền tây Thừa Thiên - Huế là di chứng của chất độc mầu da cam của Mỹ rải xuống đã ập đến. Ðứa con gái đầu của vợ chồng ông Mỹ bị thiểu năng trí tuệ, ngớ ngẩn từ lúc lên mười. Cậu con trai út đang khỏe khoắn nhưng đến mười tuổi thì bị bệnh máu trắng, do di hại của chất độc đi-ô-xin. Tốn bao nhiêu tiền để thay máu hằng tháng, cuối cùng hai năm sau cháu qua đời. Cậu con trai giữa là Hồ Quyết Thắng đang công tác tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội A Lưới nhưng cũng thường ốm đau luôn. Tôi lặng người trước câu chuyện của thầy. Tôi cố hình dung mà vẫn không hiểu nổi chàng thanh niên gầy gò năm xưa và cả “ông giáo già” bây giờ nữa, lấy đâu ra sức và sự kiên nhẫn để có thể lặng lẽ chịu đựng vượt qua những khó khăn của mình rồi bền bỉ gánh từng con chữ về ươm mầm cho cả vùng A Lưới bạt ngàn và nhiều hơn thế, cho xanh màu đất học để rồi cuối đời có một kết cục không mấy dễ chịu. Vậy mà đến hôm nay ông vẫn cười hiền hậu, thầy Ku Nô vẫn không đồng ý cái ý kiến “sinh năm Ất Sửu là khoác lên mình số mệnh khổ”. Kết thúc câu chuyện với tôi, ông tâm sự: “đối với tôi, được đứng trên bục giảng ngày nào là còn một ngày hạnh phúc…”. Rõ ràng, A Lưới dẫu không là nơi chôn nhau cắt rốn những đã thực sự là quê hương thân thiết mà thầy và cả gia đình bé nhỏ của mình trọn kiếp gửi tử sinh.
Hiện giờ, thầy Ku Nô đã bước sang tuổi 86, sức khỏe suy yếu, ai muốn nói chuyện với thầy phải có người nhà nói lại qua chiếc máy trợ thính thầy vẫn đeo trên tai… Tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế cấp cho thầy căn hộ tại số 22 đường Võ Liêm Sơn, Tp. Huế. Nhưng thi thoảng người ta vẫn thấy “ông giáo già” vượt qua hàng trăm cây số về với đại ngàn Trường Sơn, tâm tình dạy dỗ đồng bào Pa Cô - Tà Ôi. “Tai sao ư? Bởi đất đó đã quá quen thuộc với tôi, ở đấy tôi có thể nghe được tiếng chim lạ chưa từng nghe. Sau này mới biết là chim Tutot. Nó luôn báo cơn mưa rừng sắp kéo đến từ phía đất Lào”.
| Năm 1983, Viện Ngôn ngữ học tiến hành nghiên cứu và hoàn thiện bộ chữ viết Pa Cô -Tà -ôi với sự cộng tác của thầy Ku Nô để làm hệ thống chữ chính thức. Và đến năm 1986, công trình chữ Pa Cô -Tà-ôi chính thức được nghiệm thu và công bố. Trong lời giới thiệu cuốn sách có viết: “Chữ Pa Cô - Tà-ôi ra đời đã góp phần tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, là phương tiện mang ánh sáng cách mạng đến với đồng bào”. |
Trọng Hiếu
|