Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị “ tố” vì ra bản án trái pháp luật

Thứ ba, 13/08/2013, 10:48 - Nguồn: Yêu cầu xóa tin
Ông Nguyễn Văn Lô (cựu chiến binh, thương binh) và vợ là bà Nguyễn Thị Vân, thường trú tại Đội 2, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội có đơn gửi đến các cơ quan chức năng và báo chí tố cáo Tòa án nhân dân TP Hà Nội ra bản án trái pháp luật.
Theo nội dung tố cáo, cụ Nguyễn Xuân Đại và Nguyễn Thị Lan là bố mẹ đẻ của các ông, bà Nguyễn Thị Vân (SN 1938) ông Nguyễn Xuân Lý (đã hy sinh năm 1947) và ông Nguyễn Xuân Long (SN 1941). Các cụ Nguyễn Xuân Đại và Nguyễn Thị Lan mất đi để lại toàn bộ tài sản là căn nhà cấp 4 lợp ngói trên diện tích đất ở khoảng gần 1500m2. Ông Lô và bà Vân kết hôn năm 1955, ban đầu hai ông bà ở tại gia đình bên nội. Khoảng năm 1960, ông Nguyễn Xuân Long (em ruột bà Vân) đi công nhân. Do e ngại sức khỏe của cụ Nguyễn Thị Lan( mẹ bà Vân) nên ông Lô và bà Vân chuyển hẳn sang ở bên ngoại. Từ khi ông Long đi làm xa, mọi việc chăm sóc mẹ già đều do gia đình bà Vân gánh vác. Năm 1966, cụ Nguyễn Thị Lan mất, vợ chồng ông Long bỏ đi nơi khác nên từ đó gia đình ông Lô, bà Vân quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích nhà và đất của cụ Đại và cụ Lan để lại. Khi mất, cụ Đại và cụ Lan không để lại di chúc. Năm 1976, ông Lô, bà Vân có nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất liền kề của bà Nguyễn Thị Yến, giá chuyển nhượng là 230đ, đã trả tiền mặt và nhận đất. Diện tích đo thực tế hiện nay là 194,3m2. Năm 1982, ông Lô, bà Vân có mua thêm của Nguyễn Thị Yến diện tích đất kế bên, số tiền là 25đ. Hai bên đã giao đất, trả tiền. Diện tích đo thực tế hiện nay là 598,5m2. Việc mua bán này có anh Nguyễn Xuân Quý, là con bà Nguyễn Thị Yến biết và xác nhận.

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị “ tố” vì ra bản án trái pháp luật
Việc Tòa án nhân dân TP Hà Nội ban hành bản án số 04/2013/DS-ST về việc hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất, chia tài sản chung và đòi nhà, theo một số luật sư là hoàn toàn sai

Năm 1985, ông Nguyễn Xuân Long là con trai nhưng ông đã đi công tác xa và đã có nhà ở tỉnh Phú Thọ nên đã nhượng lại ngôi nhà của bố mẹ để lại cho chị gái là bà Nguyễn Thị Vân đồng thời nhận số tiền 20.000 đồng của vợ chồng ông Lô, bà Vân. Việc thỏa thuận này được coi là thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế. Từ đó, gia đình ông Lô, bà Vân sử dụng toàn bộ diện tích đó. Năm 2004, ông Lô quay về quê hương đặt vấn đề với ông Lô, bà Vân xin trông nom diện tích nhà cũ, trên diện tích 200m2 để làm nơi thờ cúng. Ông Lô, bà Vân không đồng ý nhưng nể tình vợ chồng nên cho phép ông Long đi lại, tạm trú tại địa chỉ này. Ngày 1/8/2004, ông Long có đơn khiếu nại quyền sử dụng đất gửi UBND huyện Thanh Trì và UBND xã Tả Thanh Oai yêu cầu ông Lô, bà Vân chia tài sản thừa kế tương ứng với 400m2 đất, trên đó có căn nhà đã chuyển nhượng cho bà Vân. Bắt đầu từ đây phát sinh tranh chấp giữa ông Long và gia đình ông Lô, bà Vân. Sau khi hòa giải không xong ở cấp cơ sở, gia đình ông Lô, bà Vân và ông Long đã phải ra tòa để giải quyết quyền lợi giữa các bên. Ngày 29/1/2013, Tòa án nhân dân TP Hà Nội (tòa sơ thẩm) đã ban hành bản án số 04/2013/DS-ST về việc: Hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất, chia tài sản chung và đòi nhà. Tuy nhiên, sau khi bản án được ban hành, gia đình ông Lô, bà Vân đã phản đối quyết liệt vì cho rằng bản án thiếu khách quan và trái pháp luật nên ông Lô, bà Vân có đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tối cao (tòa phúc thẩm) đề nghị được xét xử lại.

Theo sự đánh giá, phân tích đối với Bản án số 04/2013/DS-ST của TAND TP Hà Nội, luật sư Đặng Anh Đức, văn phòng luật sư Đặng và Cộng sự, nhận định:

Thứ nhất, về giá trị pháp lý của đơn chuyển nhượng nhà ngày 29-4-1985 giữa bà Vân và ông Long và Biên bản họp gia đình ngày 16-3-1997.

Cụ Đại mất năm 1947, cụ Lan mất năm 1966. Sau khi hai cụ mất, giữa những người thừa kế là ông Nguyễn Xuân Long và bà Nguyễn Thị Vân đã có sự phân chia về việc sử dụng, định đoạt di sản thừa kế của hai cụ. Ngày 29/4/1985, ông Long thỏa thuận với bà Vân về việc chuyển giao, sử dụng phần tài sản này. Cụ thể là ông Long đã nhượng lại căn nhà duy nhất của các cụ để lại trên đất cho bà Vân. Thay vào đó, bà Vân phải trả số tiền là 20.000 đồng để được định đoạt toàn bộ tài sản này. Giao dịch này giữa ông Long và bà Vân là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật đạo đức xã hội vào thời điểm xác lập nên có giá trị ràng buộc và được pháp luật bảo hộ. Thực tế, giao dịch này đã được các bên thực hiện, bà Vân đã quản lý, sử dụng ổn định, liên tục tài sản này. Chồng bà Vân là ông Nguyễn Văn Lô đã đã đăng ký, sử dụng đất theo quy định của Nhà nước để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chung hợp pháp. Qua hồ sơ quản lý về đất đai của chính quyền địa phương các giai đoạn cũng đã thể hiện rõ điều này. Thỏa thuận giữa ông Long và bà Vân được các đương sự cũng như Tòa án thừa nhận là có thực. Tuy nhiên, Tòa án cho rằng Đơn chuyển nhượng lại nhà năm 1985 không nêu xác định địa chỉ, không nêu rõ diện tích đất, không báo cáo chính quyền địa phương nên trong quá trình xét xử, Tòa án đã công nhận một thỏa thuận khác giữa các bên là Biên bản họp gia đình vào ngày 16/3/1997 làm cơ sở để chia tài sản theo yêu cầu của ông Long. Tòa án cho rằng Biên bản này là văn bản thay thế cho Đơn nhượng lại nhà năm 1985 và có giá trị thi hành.

Chúng tôi cho rằng, quan điểm của Tòa án là chưa thuyết phục bởi các lẽ sau:

- Đơn nhượng lại nhà năm 1985 không thể nhận định là vô hiệu do không nêu rõ địa chỉ và diện tích: Trong quá trình xét xử, Nguyên đơn đã thừa nhận việc nhượng đất là có và thực tế các bên có thể xác định được tài sản nhượng này do chỉ có một căn nhà duy nhất trên thửa đất ở thời điểm đó.

- Biên bản họp gia đình năm 1997 không có cơ sở pháp lý để công nhận hợp pháp: (1) Biên bản họp có nêu rõ thành phần họp nhưng lại không đầy đủ chữ ký của người tham gia; (2) Vào thời điểm ký biên bản, ông Lô là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng nội dung phân chia tài sản không thể hiện sự đồng ý của ông Lô. Có thể hiểu những người ký văn bản đã thỏa thuận định đoạn tài sản của người khác, trái với quy định của pháp luật; (3) Trong Biên bản này không hề có sự phủ định đối với Đơn nhượng lại nhà năm 1985 nên việc nhận định của Tòa án là chưa có cơ sở rõ ràng.

- Tòa án cho rằng Đơn nhượng nhà năm 1985 là cái cũ, được hai Bên thay thế bằng Biên bản họp gia đình là không hợp lý: Đơn nhượng nhà năm 1985 mặc dù là cái cũ nhưng các Bên đã thực hiện, phần tài sản của bà Vân sau đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng (bà Vân và ông Lô) nên bất kỳ giao dịch nào có liên quan đến tài sản sau này phải có sự đồng ý của các chủ sở hữu, sử dụng mới có giá trị pháp lý. Biên bản họp giữa các bên năm 1997 không có giá trị pháp lý nên không thể coi là văn bản thay thế được.

Như vậy, việc Tòa án sử dụng Biên bản họp gia đình làm căn cứ chính cho việc chấp nhận yêu cầu chia tài sản của ông Long mà chưa đánh giá đầy đủ giá trị pháp lý của Đơn nhượng nhà năm 1985 là chưa khách quan.

Thứ hai là về thời hiệu chia thừa kế

Cụ Đại mất năm 1947, cụ Lan mất năm 1966. Theo quy định của pháp luật thì thời hiệu chia thừa kế đã hết. Tòa án nhân dân TP Hà Nội thụ lý yêu cầu của ông Long đòi chia tài sản chung theo quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm pháp TAND tối cao ngày 10/8/2004 là chưa thỏa đáng bởi các lý do sau:
- Nghị quyết số 02 hướng dẫn về việc chia tài sản chung nhưng chỉ áp dụng nếu “các đồng thừa kế đều thừa nhận di sản do người thừa kế để lại chưa chia”.

- Các bên đều thừa nhận giao dịch nhượng tài sản năm 1985 là có thực nên không thể nhận định tài sản này chưa chia. Có thể mục đích nhượng nhà năm 1985 được các bên nhận định là khác nhau (đại diện Nguyên đơn cho rằng để bà Vân yên tâm trông nom nhà đất; Đại diện Bị đơn cho rằng đó là giao dịch về nhượng, phân chia di sản) nhưng quan trọng nhất là nó đã diễn ra thực, không trái quy định của pháp luật và các bên đã thực hiện ổn định, được chính quyền địa phương công nhận thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ ba, Tòa không triệu tập anh Nguyễn Xuân Quý, là con bà Nguyễn Thị Yến (người đã hai lần chuyển nhượng đất cho ông Lô, bà Vân) tham gia với tư cách người làm chứng của vụ án.

Bà Nguyễn Thị Yến đã có hai lần chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lô, bà Vân trước đây. Việc chuyển nhượng này có anh Quý biết và anh Quý đã gửi văn bản xác nhận làm chứng việc chuyển nhượng trên cho tòa án, nhưng Tòa đã không triệu tập anh Quý tham gia làm chứng để điều tra, xác minh. Việc này đã dẫn đến Tòa án xác định không đúng tổng diện tích đất nêu trong yêu cầu của đương sự và xác định sai số án phí mà đương sự phải nộp.

Chúng tôi cho rằng, việc triệu tập, lấy lời khai của anh Quý là cần thiết nếu Tòa án cho rằng đây là vụ án yêu cầu chia tài sản thừa kế và khi các Bên còn có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc, diện tích đất thực tế nêu trong yêu cầu của đương sự.

Thứ tư, về phạm vi yêu cầu và án phí trong vụ án:

Theo quy định của pháp luật, án phí được xác định dựa trên giá trị tài sản yêu cầu giải quyết mà bên nguyên đơn đưa ra và yêu cầu phản tố của bên bị đơn. Căn cứ các quy định:

Tại Điều 27, Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án quy định

“…4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Toà án chấp nhận.

5. Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Toà án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Toà án chấp nhận…”.

Trong vụ án này, bản chất yêu cầu của ông Long là đề nghị Tòa án chấp nhận chia tài sản theo Biên bản họp gia đình chia đất và nhà cửa (văn bản này không có giá trị pháp lý vì không có ý kiến thống nhất của ông Nguyễn Văn Lô) hay nói đúng hơn là yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất là 367,2 m2. Còn yêu cầu của ông Lô, bà Vân là đòi nhà cho ở nhờ. Tuy nhiên, Tòa án đã quyết định: (1) Ông Long được sở hữu, sử dụng phần nhà đất có diện tích là 367,2m2, có giá trị 5.508.000.000đ và phải chịu án phí là 56.754đ; (2) ông Lô, bà Vân có quyền sở hữu, sử dụng diện tích đất là 1.301,5m2, có giá trị 19.522.500.000đ và phải chịu án phí là 127.522.500đ.

Quyết định của Tòa án có một số điểm sau chưa thỏa đáng:

- Chưa phù hợp với bản chất của vụ việc: Tòa án nhận định đây là chia tài sản của các đồng thừa kế nhưng lại công nhận quyền sử dụng đất đối với ông Lô (theo quy định của pháp luật, ông Lô không phải là người thừa kế cùng hàng); Tòa án phủ nhận vai trò của ông Lô đối với Biên bản họp gia đình nhưng lại quyết định chia tài sản chung theo nội dung của Biên bản này.

- Ông Lô, bà Vân phải nộp án phí đối với cả những phần mà ông không có yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận.

Trên cơ sở phân tích một cách khách quan các vấn đề nêu trên, Bản án do Tòa án số 04/2013/DS-ST ngày 29/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội còn một số điểm chưa mang tính thuyết phục và cần xem xét lại cho phù hợp với các tình tiết và bối cảnh thực tế của Vụ án.

Dương Quốc

Trang gốc:
bạnhà nộiănpháppháp luậtnhân dânán nhân dântrái pháp luậtbản ánán nhân
Pháp Luật