Chính trị - Xã hội

Vì sao rừng U Minh hạ dễ bị cháy trong mùa khô ?

Chủ nhật, 2008-05-04 10:01:05 - Nguồn:
Lâm phần U Minh hạ tỉnh Cà Mau diện tích tự nhiên hơn 54.000 ha, nằm trên địa bàn hai huyện U Minh và Trần Văn Thời, trong đó đất có rừng 37.500 ha. Đây là vùng sinh thái đất ngập nước đặc thù khá rộng lớn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long với nhiều loài động, thực vật quý hiếm sinh sống.
Rừng U Minh

Lâm phần U Minh hạ tỉnh Cà Mau diện tích tự nhiên hơn 54.000 ha, nằm trên địa bàn hai huyện U Minh và Trần Văn Thời, trong đó đất có rừng 37.500 ha. Đây là vùng sinh thái đất ngập nước đặc thù khá rộng lớn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long với nhiều loài động, thực vật quý hiếm sinh sống.

Tuy nhiên, rừng U Minh hạ dễ bị cháy vào mùa khô, vừa làm giảm sút chất lượng tài nguyên rừng, phá vỡ cân bằng sinh thái, tính đa dạng sinh học, vừa chi phí đầu tư phòng chống và chữa cháy rất tốn kém. Theo TTXVN, từ năm 2000 đến nay, trên lâm phần này đã xảy ra hàng trăm vụ cháy lớn nhỏ gây thiệt hại khoảng 4.600 ha rừng tràm. Nhiều nhà khoa học chuyên ngành lâm nghiệp đã giải thích vì sao rừng U Minh hạ dễ cháy trong mùa khô và chỉ ra những nguyên nhân gây ra cháy.

Than bùn là nguyên nhân chính thứ nhất. Lớp than đó nằm dưới lớp thực bì trên mặt đất có cây rừng với chức năng hút nước, góp phần điều hoà chế độ nước, bổ sung nguồn nước ngầm đảm bảo độ ẩm và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. Vì vậy, nếu lớp than này nằm xấp xỉ hoặc dưới mực nước trong kênh, rạch thì khả năng cháy rừng, cháy than quy mô lớn ít khi xảy ra.

Thế nhưng, thực tế trên lâm phần U Minh hạ, do mạng lưới kênh, rạch đào chằng chịt làm cho lượng nước dễ bị rò rĩ, thất thoát và bốc hơi nhanh, nhất là vào giai đoạn cao điểm mùa khô trở về sau, mực nước trong kênh rạch hạ thấp, cạn kiệt dẫn đến thiếu nước phòng cháy chữa cháy.

Theo đó, lớp than bùn nằm cao hơn mực nước (trên dưới 1 m vào mùa khô) không còn khả năng điều hòa nước và lớp thực bì phía trên bị khô giòn, trở thành vật liệu dễ cháy, dễ bén lửa làm cháy than bùn, cháy lan lớp thực bì rất nhanh gây cháy lớn rừng nếu không phát hiện, dập tắt lửa kịp thời. Qúa trình cháy than lan sang cháy rừng và ngược lại là hiện tượng cháy cực kỳ nguy hiểm, do tầng than dày, phân bố rộng kéo theo cháy ngầm âm ỉ, kéo dài nhiều ngày rất khó khăn trong việc chữa cháy.

Tiếp đến, do kỹ thuật canh tác lạc hậu, lạm dụng sự ưu đãi từ tự nhiên của con người hàng chục năm qua và thiếu sự đầu tư phát triển đã tạo ra loại rừng quảng canh năng suất, chất lượng thấp dễ gây cháy nhưng rất khó chữa cháy. Đây là nguyên nhân thứ hai gây cháy rừng U Minh hạ. Ngoài ra, lâm phần U Minh hạ hiện có gần 6.000 hộ dân đang sinh sống, nhưng tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao.

Phần lớn những hộ cư dân này sống dựa vào khai thác tài nguyên rừng để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày, gây áp lực kinh tế - xã hội rất lớn đối với rừng. Họ chưa thật sự nhận thức đầy đủ về phòng chống cháy rừng mùa khô, lén lút vào rừng lấy mật ong, hầm than trái phép, đốt thực bì để dọn đất rừng sau khai thác, đốt đất nông nghiệp ven rừng gây cháy rừng. Hệ thống thủy lợi cung cấp nước cho lâm phần trong mùa khô còn dựa vào tự nhiên, không có nguồn nước bổ sung khi cạn kiệt.

Để giải quyết tận gốc vấn đề này, nhiều nhà khoa học khuyến cáo tỉnh Cà Mau cần sớm thay đổi kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ trên cơ sở ứng dụng những biện pháp điều tiết, quản lý rừng bền vững, tạo sức hấp dẫn đối với cư dân nhận khoán đất rừng từ hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất. Mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài đầu tư phát triển kinh tế lâm nghiệp, xây dựng nhà máy chế biến gỗ. Đầu tư trồng rừng thâm canh vừa không xảy ra cháy lớn rừng, vừa đem lại hiệu quả kinh tế, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho cư dân làng rừng, giảm những tác động tiêu cực, bất lợi đối với tài nguyên và phát triển rừng bền vững.

Hiện nay, tỉnh Cà Mau kết hợp với Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành điều tra đánh giá trữ lượng, chất lượng và đề xuất hướng bảo vệ, sử dụng hợp lý nguồn than bùn U Minh hạ. Vùng thàn bùn này chiếm diện tích khoảng 300 km2 nằm trên địa bàn các xã Khánh Tiến, Khánh Lâm, Khánh An, Nguyễn Phích (U Minh) và xã Khánh Bình Tây, Trần Hợi (Trần Văn Thời) được đánh giá, xác định là một trong những vùng chứa than bùn lớn nhất nước ta.

Chất lượng than thuộc loại tốt nhất do được thành tạo chủ yếu bằng mùn thực vật bị phân hủy cao, không lẫn sét, ít lưu huỳnh, hoàn toàn có thể đảm bảo để sản xuất chất đốt, phân hữu cơ vi sinh, phân NPK, sản xuất chế biến một số hóa phẩm, than hoạt tính... Tổng trữ lượng than trên dưới 14 triệu tấn.

Đào Hoàng

Phiên bản cache tại địa chỉ:
Yêu cầu xóa tin
Kết bạn bốn phương
Sản phẩm giá tốt: