
|
| ||
* Thứ trưởng đánh giá như thế nào về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) trong thời gian qua? - Tôi có thể vui mừng nhận xét rằng kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1990 đến nay, quan hệ Việt Nam - EU đã có những phát triển rất tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, hợp tác phát triển, cũng như giáo dục, khoa học công nghệ... Về chính trị, hai bên thường xuyên có các cuộc tiếp xúc và trao đổi đoàn, kể cả ở cấp cao nhất như chuyến thăm Ủy ban châu Âu của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu (tháng 5.2000), Tổng bí thư Nông Đức Mạnh (tháng 3.2004), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (tháng 9.2006), Chủ tịch Ủy ban châu Âu Romano Prodi thăm Việt Nam (tháng 10.2004), và đặc biệt là cuộc gặp Cấp cao Việt Nam - EU đầu tiên tổ chức vào tháng 10.2004 tại Hà Nội bên lề Hội nghị ASEM 5. Về kinh tế, hiện nay EU là một trong số các đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, kim ngạch hai chiều đạt gần 10 tỉ USD năm 2006 và luôn tăng trưởng ở mức cao 15 - 20%/năm. Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam với 562 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng 7,6 tỉ USD. Các dự án đầu tư của châu Âu có hàm lượng và tỷ lệ chuyển giao công nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Đặc biệt, liên tục trong những năm qua, EU luôn là một trong những đối tác viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, mức cam kết năm 2007 là 940 triệu USD. Các khoản viện trợ của EU luôn đáp ứng các lĩnh vực ưu tiên của ta như xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, các hoạt động hợp tác, trao đổi trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ ngày càng phong phú và đa dạng, đưa quan hệ hai bên phát triển một cách toàn diện. Năm 2005, Chính phủ đã thông qua đề án tổng thể Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu và Chương trình hành động đến 2010 và định hướng tới 2015 với mục tiêu đưa quan hệ Việt Nam - EU trở thành "Quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, trên tinh thần ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các thập kỷ tới của thế kỷ 21". Tôi muốn nhấn mạnh EU là đối tác đầu tiên của Việt Nam có chiến lược tổng thể về hợp tác và Việt Nam cũng là nước đầu tiên ở Đông Nam Á đưa ra một chiến lược hợp tác toàn diện với EU. * Tại sao Liên minh châu Âu đề xuất đàm phán Hiệp định đối tác và hợp tác (PCA) với ta? Xin ông cho biết một vài nét về hiệp định mới này? - Hiệp định khung về hợp tác ký kết tháng 7.1995 là khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc phát triển quan hệ giữa Việt Nam và EU từ đó đến nay. Tuy nhiên, hiện nay, cả Việt Nam và EU đã có những phát triển quan trọng. EU tiếp tục lớn mạnh, mở rộng thành 27 nước thành viên với trình độ liên kết ngày càng sâu rộng cả về kinh tế, chính trị, an ninh. Về phần mình, Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới: ổn định chính trị được giữ vững; kinh tế tăng trưởng cao và liên tục; quan hệ đối ngoại mở rộng; là thành viên quan trọng và tích cực của nhiều tổ chức và diễn đàn khu vực và quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC; trở thành thành viên chính thức của WTO. Vì vậy, cả hai phía đều nhận thức được sự cần thiết phải có một thỏa thuận song phương mới làm cơ sở cho việc phát triển quan hệ hợp tác giữa hai bên trong những năm tới. Đây cũng chính là lý do vì sao EU đề xuất với Việt Nam việc đàm phán ký kết Hiệp định đối tác và hợp tác (gọi tắt là PCA) thay thế cho Hiệp định khung về hợp tác ký năm 1995. Khác với Hiệp định khung 1995, PCA là một văn bản bao gồm các lĩnh vực hợp tác toàn diện, đầy đủ giữa hai bên, đưa quan hệ nâng lên tầm cao hơn, trở thành quan hệ đối tác và hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Tuy nhiên, đây là một hiệp định hoàn toàn mới mẻ, trong khu vực ASEAN chưa có nước nào ký chính thức với EU. Do vậy, các bộ, ngành có liên quan cần phải nghiên cứu và tìm hiểu kỹ các nội dung để có thể lựa chọn những lĩnh vực phù hợp và hiệu quả nhất trong hợp tác của Việt Nam với EU. N.G.B (thực hiện) | ||
|
156,000 VNĐ
|
327,000 VNĐ
|
|
250,000 VNĐ
|
205,000 VNĐ
|
|
80,000 VNĐ
|
156,000 VNĐ
|
|
130,000 VNĐ
|
45,000 VNĐ
|
|
Vui lòng gọi
|
535,000 VNĐ
|
|
205,000 VNĐ
|
300,000 VNĐ
|
|
Vui lòng gọi
|
400,000 VNĐ
|
|
350,000 VNĐ
|
480,000 VNĐ
|
|
220,000 VNĐ
|
215,000 VNĐ
|
|
215,000 VNĐ
|
195,000 VNĐ
|