
Trong bối cảnh hiện tại, Việt Nam vẫn có khả năng phát triển ngành công nghiệp ô tô. Vấn đề là chúng ta cần phải xây dựng lại kế hoạch phát triển và xây dựng chính sách, chọn hướng thu hút đầu tư đúng Theo các dự đoán của viện Goldman–Sachs và ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Việt Nam là nước có kinh tế phát triển mạnh nhất vùng Á châu trong giai đoạn từ nay đến năm 2025. Năm 2006, số xe của Philippines là 2,5 triệu và Thái Lan có 5,2 triệu. Số xe Việt Nam năm 2007 là 0,7 triệu. Như vậy, trên lý luận thuần kinh tế, thị trường ô tô Việt Nam có tiềm năng phát triển gần 2 triệu xe trong 5 năm tới và 4,5 triệu trong 10 năm. Một thị trường khổng lồ có thể hấp dẫn nhiều tập đoàn ô tô quốc tế. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là làm sao khai thác tiềm năng này, xây dựng những cơ sở cho sự phát triển một công nghiệp ô tô Việt Nam? Hiện tại tiềm năng này còn bị hạn chế bởi khả năng phát triển hạ tầng cơ sở. Để không phí phạm những tiềm năng, chúng ta cần phải quản lý giai đoạn chuyển tiếp để xây dựng những nền tảng cơ bản cho sự phát triển tương lai của công nghiệp ô tô Việt Nam. Nghĩa là một mặt đề ra một kế hoạch quy mô và nhiều tham vọng về phát triển hạ tầng cơ sở và thị trường ô tô nhằm gây chú ý và lôi cuốn đầu tư thiết kế và sản xuất tại Việt Nam; mặt khác quản lý tối ưu giai đoạn hạn chế phát triển thị trường bằng cách giữ giá xe cao, đồng thời có những biện pháp ưu tiên phát triển ở những vùng có mật độ xe chưa cao: + Giá xe cao: Đánh thuế nhập cao hoặc/và đưa quy chế môi trường từ Euro 2 lên Euro 4 rồi 5; biện pháp thứ hai nhằm hiện đại hoá xe ô tô ở Việt Nam (năm 2012, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ áp dụng Euro 5) và giảm ô nhiễm ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM. + Ưu tiên phát triển những vùng mật độ xe còn thấp (nông thôn và cao nguyên) với những chính sách đặc thù để đóng góp vào phát triển các khu vực đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng và khai thác những vùng hẻo lánh. Xây dựng lại kế hoạch phát triển công nghiệp ô tô Việt Nam Từ cuối thập niên 90 với sự thành hình các vùng kinh tế như AFTA, MERCOSUR... công nghiệp ô tô thế giới bước vào giai đoạn thay đổi tổng thể hệ thống sản xuất, sự thay đổi này còn rõ nét hơn nữa ở Á châu sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1997. Nếu phát triển hạ tầng cơ sở theo kịp phát triển kinh tế, thị trường ô tô Việt Nam sẽ lên tới 5 triệu xe trong 10 năm tới Song song với sự tập trung sản xuất từng vùng, các hãng xe Âu – Mỹ, để giảm giá xe, đã và đang chuyển sản xuất và thiết kế phụ tùng sang các nước có chi phí sản xuất thấp – với mục tiêu là 40% phụ tùng cung cấp cho các xưởng xe lắp ráp tại Âu – Mỹ nhập từ các nước có chi phí sản xuất thấp. Công nghiệp ô tô Việt Nam được xây dựng dựa trên hệ thống sản xuất thế giới ở cuối thế kỷ 20. Như trình bày trên, hệ thống này đã bắt đầu thay đổi, các cơ sở lắp ráp địa phương sẽ từ từ biến mất. Cơ hội nào cho Việt Nam? Cần lưu ý rằng công nghiệp sản xuất phụ tùng là cơ bản, giá phụ tùng chiếm 78% giá sản xuất xe, vừa tập trung nhiều công nghệ hiện đại vừa tạo nhiều việc làm, doanh số của công nghiệp phụ tùng quan trọng hơn nhiều so với doanh số của công nghiệp lắp ráp (chỉ chiếm khoảng 12% giá sản xuất xe). Với kế hoạch sản xuất phụ tùng ở các nước có chi phí sản xuất thấp của các tập đoàn Âu – Mỹ và chính sách dùng 80% linh kiện sản xuất tại chỗ để cung cấp cho các cơ sở lắp ráp địa phương, công nghiệp phụ tùng có tiềm năng phát triển rất cao tại các nước vùng Á châu. Nhận định rằng thị trường ASEAN được coi như là “vùng đất” của các hãng xe Nhật với 73% thị trường. Tỷ số này lên tới 93%, 95% và 82% tại các nước Indonesia, Thái Lan và Philippines. Đây là một lý do mà các tập đoàn Âu – Mỹ chưa tập trung đầu tư vào ASEAN, vì sẽ phải trả giá rất đắt để phá phòng thủ của Nhật, lý do thứ hai là các thị trường Trung Quốc, Ấn Độ, Nga hiện đang quan trọng và phát triển nhanh hơn. Sự phát triển của hai ngành công nghiệp phụ tùng và lắp ráp ô tô không thể tách rời mà phải tiến hành song song. Công nghiệp lắp ráp ô tô kéo công nghiệp phụ tùng và ngược lại, các tập đoàn ô tô chỉ đầu tư vào địa phương có khả năng cung cấp tại chỗ các linh kiện để lắp ráp.
(theo Sài Gòn tiếp thị) |
|
560,000 VNĐ
|
30,000 VNĐ
|
|
420,000 VNĐ
|
620,000 VNĐ
|
|
Vui lòng gọi
|
181,000 VNĐ
|
|
144,000 VNĐ
|
Vui lòng gọi
|
|
600,000 VNĐ
|
237,000 VNĐ
|
|
170,000 VNĐ
|
Vui lòng gọi
|
|
280,000 VNĐ
|
99,000 VNĐ
|
|
680,000 VNĐ
|
195,000 VNĐ
|
|
Vui lòng gọi
|
160,000 VNĐ
|
|
250,000 VNĐ
|
200,000 VNĐ
|