Các chuyên gia Phố Wall: Kinh tế thế giới sẽ mất ít nhất 5,5 nghìn tỷ USD vì Covid-19 - tương đương với việc mất đi Nhật Bản

Thế giới 09/04/2020 - 21:24

Ngay cả những chính sách kích thích tiền tệ, tài khoá với quy mô lớn chưa từng có được tung ra, thì tăng trưởng GDP toàn cầu khó có thể quay trở lại xu hướng tiền khủng hoảng cho đến ít nhất là năm 2022.

Đại dịch Covid-19 có thể sẽ khiến nền kinh tế toàn cầu mất hơn 5 nghìn tỷ USD trong 2 năm tới, con số này thậm chí còn lớn hơn sản lượng kinh tế hàng năm của Nhật Bản – nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới. Đó là lời cảnh báo từ các ngân hàng trên Phố Wall, trong bối cảnh thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng trong thời bình sâu sắc nhất kể từ những năm 1930, sau khi các chính phủ buộc phải yêu cầu doanh nghiệp đóng cửa, người dân ở nhà nhằm ngăn chặn Covid-19 lây lan.

Dù cuộc suy thoái được dự đoán là chỉ diễn ra trong một giai đoạn ngắn, nhưng các nền kinh tế sẽ mất một khoản thời gian để vực dậy, lấy lại thăng bằng sau cú gã này. Ngay cả với những chính sách kích thích tiền tệ, tài khoá với quy mô lớn chưa từng có, thì tăng trưởng GDP khó có thể quay trở lại xu hướng tiền khủng hoảng cho đến ít nhất là năm 2022.

Giai đoạn đó kéo dài tương đương với hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ở hơn 1 thập kỷ trước, dù vẫn chưa rõ liệu sự phục hồi có chậm chạp hơn so với những gì các nhà kinh tế dự đoán hay không. Điều này nhấn mạnh rằng các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với nhiệm vụ lớn hơn. Họ phải đưa ra các chính sách kích thích với quy mô đủ để phục hồi, nhưng vẫn phải tránh việc mở cửa nền kinh tế quá sớm và tạo điều kiện cho dịch bệnh bùng phát trở lại.

Catherine Mann – kinh tế gia trưởng của Citigroup, nhận định: "Hướng đưa ra chính sách mang ý nghĩa rất lớn. Nếu hướng đi của bạn là tích cực, thì nó sẽ hỗ trợ niềm tin kinh doanh và giúp đỡ các cá nhân rằng họ cảm thấy có thể đi làm. Đây sẽ là một yếu tố rất quan trọng sẽ diễn ra vào nửa cuối năm nay và năm 2012."

Các nhà kinh tế của JPMorgan dự đoán nền kinh tế giới sẽ mất 5,5 nghìn tỷ USD, tương đương 8% GDP vào cuối năm tới. Chỉ riêng đối với các nền kinh tế phát triển, con số này sẽ tương đương với những gì đã xảy ra trong các cuộc suy thoái năm 2008-2009 và 1974-1975.

Morgan Stanley thì cho biết dù có những phản ứng chính sách mạnh mẽ, nhưng phải đến quý III/2021 thì GDP của các thị trường phát triển mới hồi phục trở lại mức trước khi dịch bệnh diễn ra. Deutsche Bank nhận định rằng "thiệt hại kéo dài và những tàn dư" sẽ khiến Mỹ và các nền kinh tế châu Âu mất 1 nghìn tỷ USD so với thời điểm trước khi dịch bệnh diễn ra vào cuối năm 2021.

Hôm 8/4, WTO cho biết đại dịch có thể khiến dòng chảy thương mại quốc tiếp đứt gãy tồi tệ hơn so với bất kỳ thời điểm nào trong thời kỳ hậu chiến. IMF dự kiến sẽ công bố dự báo mới nhất về triển vọng kinh tế, trong cuộc họp vào mùa xuân dự kiến sẽ tổ chức vào tuần tới.

Hơn nữa, những con số trên còn ảnh hưởng đến rất nhiều người trong cuộc khủng hoảng này. Khi số người chết do dịch bệnh tăng lên, thì lợi nhuận của các doanh nghiệp sẽ sụt giảm, nhiều công ty buộc phải đóng cửa, theo đó hàng triệu người sẽ mất việc làm. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mới đây cho biết hơn 1 tỷ người lao động đứng trước nguy cơ bị cắt giảm lương hoặc mất việc.

Steve Schwarzman– giám đốc điều hành của Blackstone Group, trả lời phỏng vấn trên Bloomberg Television: "Cuộc khủng hoảng sẽ chỉ mang tính tạm thời, nhưng đang tạo áp lực cho tất cả mọi lĩnh vực."

Bởi vậy, các chính phủ sẽ cần có sự phối hợp. Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) đã cảnh báo rằng những nỗ lực rời rạc giữa các quốc gia có thể khiến làn sóng dịch bệnh bùng phát trở lại, trong kịch bản tồi tệ nhất, GDP của Mỹ sẽ thấp hơn gần 12% so với thời điểm trước khi virus lây lan vào cuối năm 2020.

Theo Amlan Roy, trưởng nhóm nghiên cứu chính sách vĩ mô toàn cầu tại State Street Global Advisors, nếu không có nỗ lực phối hợp trên toàn cầu thì các thị trường mới nổi sẽ đối mặt với quãng đường hồi phục cực kỳ dài. Ông nói: "Cuộc suy thoái kinh tế mà chúng ta chuẩn bị chứng kiến, nếu các thị trường mới nổi không thể thoát khỏi vào tháng 6, thì họ sẽ chìm trong đó trong vài năm, giống như cuộc khủng hoảng ở châu Á và Mỹ Latinh. Nếu thế giới không có sự phối hợp, thì hậu quả của cuộc khủng hoảng sẽ kéo dài 5 hoặc 10 năm."

Nếu diễn ra theo những gì đã từng chứng kiến trong lịch sử, thì đại dịch sẽ để lại hậu quả trong một thời gian rất dài. Một nghiên cứu của Đại học California cho thấy những đợt bùng phát dịch bệnh trước đây có xu hướng khiến tiền lương sụt giảm và gây áp lực cho hoạt động đầu tư trong nhiều thập kỷ.

Những kịch bản ở hiện tại cũng cho thấy rằng các nhà hoạch định chính sách đưa ra phản ứng khá hợp lý. Nhưng điều đó sẽ không thể đảm bảo, nhất là khi các bộ trưởng tài chính EU đã thất bại trong việc đi đến một chiến lược chung trong cuộc họp hôm 7/4.

Holger Schmieding – kinh tế gia trưởng tại Berenberg, lưu ý rằng các chính phủ có thể cần phải duy trì lệnh hạn chế nghiêm ngặt đối với hoạt động di chuyển vào cuối năm 2020 hay 2021 để ngăn chặn dịch bệnh tái bùng phát. Đồng thời, họ phải tiếp tục chi tiêu mạnh hơn các biện pháp ban đầu để thúc đẩy xu hướng tăng trưởng, hoặc mạo hiểm để có được sự hồi phục hình chữ W."

Ông cho hay: "Một sai lầm trong chính sách sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng. Việc đưa ra dự báo tiêu cực hơn sẽ giúp việc ứng phó trở nên dễ dàng hơn. Bạn chỉ cần giả định rằng động thái phản ứng chính sách vẫn chưa thực sự đầy đủ."