Cục Thuế TP Cần Thơ thua kiện doanh nghiệp

Pháp Luật 11/05/2020 - 19:53

Một công ty kiện yêu cầu hủy bốn văn bản của cục thuế vì cho rằng đơn phương tăng tiền thuê đất, được tòa chấp nhận.

Ngày 8/5 vừa qua, TAND TP Cần Thơ xử sơ thẩm vụ kiện hành chính giữa Công ty cổ phần 720 và người bị kiện là Cục Thuế TP Cần Thơ và cục trưởng Cục Thuế TP Cần Thơ. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là UBND TP Cần Thơ.

Kiện hai quyết định, hai thông báo

Theo người khởi kiện, ngày 8/5/2005, công ty có ký hợp đồng thuê đất với UBND TP Cần Thơ, diện tích hơn 65.000 m2. Thời hạn thuê 10 năm, giá thuê hơn 316 triệu đồng/năm, phương thức thanh toán hằng năm.

Công ty đã tạm nộp cho bên cho thuê đất thông qua Cục Thuế TP Cần Thơ tổng số tiền 5,6 tỉ đồng. Trừ đi số tiền thuê đất 10 năm theo giá như trên thì công ty còn thừa hơn 2,5 tỉ đồng. Do vậy, công ty khởi kiện dân sự ở TAND quận Ninh Kiều yêu cầu thanh lý hợp đồng.

Tháng 3/2016, công ty nhận được thông báo số 3044 của Cục Thuế về việc phải nộp tiền thuê đất hơn 18 tỉ đồng. Một tháng sau đó, Cục Thuế ban hành quyết định số 800 cưỡng chế thi hành bằng cách trích tiền từ tài khoản (gọi tắt là QĐ 800).

Công ty cho rằng nội dung của thông báo số 3044 và QĐ 800 đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, vì doanh nghiệp không thiếu tiền thuê đất đối với Nhà nước. Tranh chấp về hợp đồng thuê đất đã được tòa án thụ lý bằng vụ kiện dân sự. Vì vậy, công ty khởi kiện yêu cầu TAND TP Cần Thơ hủy bỏ thông báo số 3044 và QĐ 800 của Cục Thuế TP.

Sau đó, do TAND quận Ninh Kiều xét xử vụ án tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê đất nên TAND TP Cần Thơ đã tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính này.

Trong năm 2017, Cục Thuế tiếp tục ban hành QĐ 1855 áp dụng cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng (gọi là QĐ 1855) và thông báo số 1654 về việc hóa đơn không còn giá trị sử dụng (gọi tắt là thông báo 1654). Cho rằng QĐ 1855 và thông báo 1654 đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp nên công ty lại tiếp tục khởi kiện yêu cầu hủy.

Phía người bị kiện thì cho rằng các QĐ và thông báo bị kiện nêu trên được ban hành đúng quy định pháp luật và các văn bản trên hiện đã hết thời hiệu khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND TP trình bày có hợp đồng thuê đất như công ty nêu. Tuy nhiên, hợp đồng không có điều khoản nào quy định giá hơn 316 triệu đồng/năm là ổn định trong 10 năm. Các QĐ và thông báo của Cục Thuế là có căn cứ và không căn cứ vào hợp đồng thuê đất, mà theo các quy định của pháp luật liên quan. Các QĐ là đúng quy định về luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đại diện VKSND TP Cần Thơ đề nghị tòa chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của công ty.

Cục Thuế TP Cần Thơ thua kiện doanh nghiệp - ảnh 3

HĐXX đang tuyên án. Ảnh: Nhẫn Nam.

Tòa: Đơn phương tăng tiền thuê đất là sai

HĐXX nhận định: Các khoản tiền phải nộp được thể hiện theo thông báo số 3044 và QĐ 800 là khoản thu ngân sách nhà nước, là khoản tiền thuê đất theo hợp đồng thuê giữa UBND TP Cần Thơ và công ty. Giá thuê được ấn định theo hợp đồng này.

Tuy nhiên, Cục Thuế TP Cần Thơ điều chỉnh tăng lên trên cơ sở quy định của Nghị định 142/2005 (về tiền thuê đất, thuê mặt nước) và Nghị định 121/2010 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 142). Khoản tiền thuê đất được gọi chung là thuế theo quy định pháp luật. Do vậy, các QĐ hành chính bị kiện được ban hành đúng trình tự, thủ tục.

Về nội dung, tòa cho rằng việc Cục Thuế đơn phương tăng tiền thuê đất là trái pháp luật. Theo thỏa thuận của các bên tại điều 4 của hợp đồng thuê đất thì hợp đồng thuê đất chấm dứt khi hết hạn thuê đất nếu không có việc gia hạn hợp đồng. Do vậy, năm 2015 hợp đồng đã hết hạn.

Ngoài ra, tòa cũng cho rằng vướng mắc về đơn giá thuê đất đã có quan điểm thể hiện tại Công văn số 1329 ngày 7/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ (giải quyết vướng mắc trong việc thu tiền thuê). Theo đó, cho phép các dự án có thu tiền thuê đất đã bàn giao đất sử dụng trước ngày 1/1/2006 và trả tiền thuê đất hằng năm được tiếp tục thực hiện nguyên tắc điều chỉnh đơn giá tiền thuê đất được ghi nhận trong hợp đồng thuê đất giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và bên thuê đất.

Ở đây, công ty được thuê đất theo hợp đồng thuê đất 195/2005, đất thuê được bàn giao trước ngày 1/1/2006. Như vậy, theo tinh thần quan điểm của Công văn số 1329 nêu trên thì đơn giá thuê đất được tính theo hợp đồng 195 nói trên.

Mặt khác, tòa cũng cho rằng việc vận dụng Công văn số 1329 phù hợp với tinh thần của điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định 121/2010 (sửa đổi Nghị định 145/2005 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước).

Từ đó, tòa nhận định việc thông báo áp thuế và cưỡng chế nêu trên là trái pháp luật. Các QĐ hành chính bao gồm bốn văn bản bị kiện nêu trên là trái pháp luật về nội dung nên cần hủy bỏ. Từ đó, tòa tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần 720, tuyên hủy bỏ bốn QĐ, thông báo nêu trên.

Các văn bản bị kiện còn thời hiệu khởi kiện

Tại tòa, đại diện VKS cho rằng năm 2016, công ty đã khởi kiện yêu cầu hủy thông báo số 3044 và QĐ 800. Sau đó đến năm 2017, công ty lại khởi kiện yêu cầu hủy tiếp QĐ 1855 và thông báo 1654. Do đó, các văn bản bị kiện còn trong thời hiệu khởi kiện chứ không phải đã hết như phía người bị kiện trình bày.

Cũng theo đại diện VKS, công ty ký hợp đồng thuê đất với UBND TP, việc ký kết hợp đồng là giao dịch dân sự trên tinh thần tự nguyện của hai bên. Cục Thuế là cơ quan tham mưu cho UBND TP. Hợp đồng không có quy định Cục Thuế điều chỉnh giá đất cho thuê giữa hai bên trong hợp đồng. Ngoài ra, hai bên không có phụ lục hợp đồng ghi nhận về thỏa thuận điều chỉnh tăng giá tiền thuê. Do vậy, Cục Thuế ra văn bản tăng tiền thuê đất và cưỡng chế là không phù hợp.