Gian lận thuế ngày càng diễn biến phức tạp, thủ đoạn tinh vi

Kinh tế 29/04/2020 - 20:10

Trong những năm gần đây, tình trạng trốn và tránh thuế của các doanh nghiệp ở Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, phạm vi ngày càng rộng, quy mô ngày càng lớn và thủ đoạn ngày càng tinh vi.

Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách vừa tổ chức Hội thảo trực tuyến công bố kết quả nghiên cứu với chủ đề “Trốn và tránh thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp FDI tại Việt Nam”.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong những năm gần đây, tình trạng trốn và tránh thuế của các doanh nghiệp ở Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, phạm vi ngày càng rộng, quy mô ngày càng lớn và thủ đoạn ngày càng tinh vi. Điều này đã gây thất thu hàng nghìn tỷ đồng cho ngân sách nhà nước cũng như tạo môi trường cạnh tranh thiếu công bằng.

TS. Nguyễn Hoàng Oanh, Khoa Kinh tế học, trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhận định, ở đâu có thuế, ở đó có gian lận, trốn và tránh thuế thu nhập doanh nghiệp là một hiện tượng toàn cầu, diễn ra đặc biệt phổ biến ở các công ty đa quốc gia.

PGS.TS. Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng VEPR trình bày kết quả nghiên cứu cho biết hiện tượng vi phạm thuế ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra khá phổ biến không chỉ ở các MNCs, mà còn ở cả các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong nước. Các sai phạm cũng không chỉ xảy ra với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), mà còn với nhiều sắc thuế khác như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và các sắc thuế khác.

Gian lận thuế ngày càng diễn biến phức tạp, thủ đoạn tinh vi - ảnh 1
PGS.TS. Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng VEPR trình bày kết quả nghiên cứu

Có thể nói, hành vi gian lận thuế ngày càng diễn biến phức tạp, phạm vi ngày càng rộng, quy mô ngày càng lớn và thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây thất thu thuế lớn. Theo Tổng cục Thuế, trong giai đoạn 2010 – 2018, công tác thanh tra kiểm tra của ngành thuế đã phát hiện có tổng số 642.423 doanh nghiệp vi phạm thuế TNDN, với tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp thu về là 35.922,09 tỷ đồng và giảm lỗ là 185.002,2 tỷ đồng.

Trong suốt giai đoạn này, số doanh nghiệp vi phạm tăng mạnh, từ 31.759 năm 2010 lên 95.936 năm 2018; lượng giảm lỗ tăng mạnh, từ 10.841,9 tỷ đồng năm 2010 lên 40.914,56 tỷ đồng năm 2018, góp phần làm tăng số thuế thu về cho NSNN từ 1.783,07 tỷ đồng (0,7% số thu từ thuế TNDN) năm 2010 lên 7.144,73 tỷ đồng (1,4% số thu từ thuế TNDN).

Trung bình trong giai đoạn 20103 – 2017, mỗi năm mức thuế thất thu từ khu vực FDI (so với DNNN) có thể lên tới hơn 7 – 8 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 3,4 – 4,0% số thu thuế TNDN. Trong khi đó, con số tương ứng của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là cao hơn đôi chút, khoảng gần 10 nghìn tỷ đồng, tương đương 4,6% số thu thuế TNDN.

Các công ty đa quốc gia có nhiều cơ hội, và do vậy là trốn và tránh thuế nhiều hơn so với khu vực doanh nghiệp trong nước. Sau khi kiểm soát các yếu tố khác, tỷ suất lợi nhuận (ROA và ROE) khai báo của các doanh nghiệp thuộc khu vực FDI có xu hướng thấp hơn hẳn so với các doanh nghiệp trong nước bất chấp việc họ có những yếu tố thuận lợi hơn về thị trường, công nghệ, hay có mức độ thâm dụng vốn thấp hơn hẳn khu vực DNNN.

Tuy nhiên, nếu tính bình quân mỗi doanh nghiệp, mức thất thu thuế từ doanh nghiệp FDI cao hơn gấp vài chục lần so với doanh nghiệp ngoài nhà nước. Mức thuế thất thu ước tính cho cả 3 khu vực doanh nghiệp có thể dao động trong khoảng 13,3 – 20,7 nghìn tỷ đồng (6,4 – 9,9% số thu thuế TNDN), gấp khoảng 3 – 4 lần con số vi phạm phát hiện hàng năm bởi các cơ quan quản lý…

Từ thực trạng này, nhóm nghiên cứu khuyến nghị Nhà nước cần tiếp tục duy trì và cải thiện những chính sách hiện có, đồng thời nghiên cứu triển khai những chính sách mới đang được áp dụng rộng rãi và khuyến cáo bởi các nước phát triển và các tổ chức quốc tế.

Những chính sách đó có thể bao gồm: dần thắt chặt trần chi phí lãi vay được khấu trừ thuế của các công ty có giao dịch liên kết; các quy định nhằm chống xói mòn cơ sở thuế và chống vốn mỏng.

Đồng thời, bãi bỏ các ưu đãi thuế thái quá; tăng cường trao đổi thông tin với các nước khác, cải thiện cơ sở dữ liệu phục vụ cho mục đích quản lý thuế; thực

hiện các quy định quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số, và các dịch vụ khác được thực hiện bởi nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.

Đưa các vấn đề về cạnh tranh thuế, ưu đãi thuế, và phòng chống trốn và tránh thuế vào chương trình nghị sự của ASEAN nhằm nâng cao nhận thức và khởi xướng các thảo luận cấp khu vực về các chủ đề này.

H.L