Giáo sư Đỗ Xuân Hợp: Vị anh hùng quân y ngoài Đảng.

Tâm sự 24/04/2020 - 12:47

Những ngày cuối cùng trong bệnh viện, GS Đỗ Xuân Hợp được lãnh đạo đến tận giường bệnh trao quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông là một vị Thiếu tướng quân đội hiếm hoi không đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng Sản.

Ngày 16/4 hàng năm được coi là ngày truyền thống của ngành Quân y Việt Nam, bắt đầu kể từ năm 1946. Nhân dịp này, tạp chí Khám phá xin giới thiệu bài viết về Giáo sư, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Xuân Hợp - cây đại thụ của ngành quân y Việt Nam và cũng là cây đại thụ của ngành Giải phẫu học Việt Nam.

Giáo sư Đỗ Xuân Hợp: Vị anh hùng quân y ngoài Đảng. - ảnh 3

Ảnh chân dung Giáo sư Đỗ Xuân Hợp khi nhập ngũ chụp năm 1946.

GS Đỗ Xuân Hợp được coi một trong những người đặt nền móng xây dựng và phát triển ngành Quân y Việt Nam, cùng với những nhà khoa học tài năng khác như bác sĩ Vũ Văn Cẩn, GS.TS Nguyễn Thúc Tùng, GS Nguyễn Thế Khánh, GS.TSKH Bùi Đại, GS.TSKH Lê Thế Trung… Ông từng giữ nhiều trọng trách khác nhau trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, như: Quân y Viện trưởng Viện X, Viện trưởng Bệnh viện Việt Trì, Trưởng phòng Huấn luyện Cục Quân y, Hiệu trưởng trường Quân y sĩ Việt Bắc. Hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954), ông làm Chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu trường Đại học Y Hà Nội (1954-1985), và là Giám đốc Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y) từ năm 1960-1978.

Ông còn là một trong những người sáng lập ra Đảng Xã hội Việt Nam và ở trong Ban chấp hành Trung ương Đảng Xã hội từ năm 1946-1985. Trên lĩnh vực chuyên môn, GS Đỗ Xuân Hợp là người sáng lập ra Hội Hình thái học Việt Nam (27/10/1967) và giữ chức Chủ tịch kiêm Tổng biên tập của tờ báo Hình thái học liên tục trong 18 năm liền.

Cuộc đời GS Đỗ Xuân Hợp là một hành trình dài của sự cống hiến không biết mệt mỏi cho khoa học, cho đất nước và nhân dân. Ông cũng được biết đến như một tấm gương của sự tự học đặc biệt, từ một y sĩ Đông Dương trở thành một trợ lý giải phẫu, một bác sĩ và một nhà khoa học lớn được y giới thừa nhận, ngợi ca.

QUAN ĐỐC TỰ HỌC TÚ TÀI

Xuất thân trong một gia đình trí thức ở Hà Nội và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền giáo dục Nho học nhưng Đỗ Xuân Hợp lại sớm chịu tác động của Tây học. Tốt nghiệp Y sĩ Đông Dương năm 1929 được chính quyền Pháp phân công làm Quan Đốc tại Bắc Hà, Lào Cai.

Công việc thường ngày của ông là buổi sáng khám chữa bệnh cho các bệnh nhân là sĩ quan và binh lính người Pháp, buổi chiều dành cho nhân dân sở tại. Cũng có khi ông làm việc ở đồn binh của Pháp.

Giáo sư Đỗ Xuân Hợp: Vị anh hùng quân y ngoài Đảng. - ảnh 4

GS Đỗ Xuân Hợp (ngoài cùng bên phải) cùng đoàn cán bộ Việt Nam trong một lần sang thăm và làm việc tại Leningrat, Liên Xô năm 1963. Ảnh: TTDS các nhà khoa học Việt Nam

Không những nhận được cảm tình của binh lính Pháp, Quan đốc Đỗ Xuân Hợp cũng được người dân yêu mến, tin tưởng. Quan đốc khám bệnh cho người dân tộc thiểu số không lấy tiền, thường chỉ lấy tiền thuốc, có nhiều trường hợp bệnh nhân không có tiền ông lại phải bỏ tiền túi ra cho, hoặc phát thuốc miễn phí.

Cuộc sống ở Bắc Hà tưởng chừng rất bình yên, vị Quan đốc cũng không nghĩ đến việc sẽ thay đổi nơi làm việc vì điều kiện sinh hoạt ở đây rất tốt, tình cảm nhân dân và chính quyền dành cho ông cũng rất trọng vọng thì một biến cố bất ngờ xảy ra. Tháng 2/1932, một nhóm cướp nổ súng tấn công vào cơ sở y tế nơi Quan Đốc Đỗ Xuân Hợp làm việc và cướp đi rất nhiều thứ. May mắn lắm vợ chồng ông mới trốn thoát được lưỡi hái của tử thần. Kể từ đó, ông nhen nhóm ý định xin về Hà Nội để làm việc. Ông bàn bạc với vợ đăng ký học hàm thụ từ xa để thi lấy bằng tú tài toàn phần.

Những tâm sự của vị Quan đốc lúc bấy giờ được vợ - bà Nguyễn Thị Thịnh ghi lại trong hồi ký sau này: “Bây giờ chỉ có cách học, học thêm rồi chờ thời. Trước kia nhà anh nghèo, không có tiền sang Pháp học. Bây giờ có tiền rồi, anh sẽ học thêm, học hàm thụ ở trường đại học hàm thụ Pháp ở Paris. Em sẽ cùng học với anh, hai chúng mình thi đua nhau cho vui, học một mình buồn lắm”.

Giáo sư Đỗ Xuân Hợp: Vị anh hùng quân y ngoài Đảng. - ảnh 5

Giáo sư Đỗ Xuân Hợp (thứ 3 từ trái sang) cùng các trí thức trong kháng chiến tại Thanh Thuý (Phúc Thọ) năm 1948.

Được sự động viên của vợ và có chút tiền do chính quyền bảo hộ bồi thường sau vụ cướp, vị Quan đốc trẻ tuổi gửi điện sang Pháp mua các tài liệu cần thiết để hai vợ chồng cùng ôn thi tú tài. Những năm 1930, dưới thời thuộc Pháp, những ai không có điều kiện học trực tiếp thì có thể học hàm thụ từ xa thông qua con đường bưu điện. Sau nửa tháng gửi điện sang Paris, Đỗ Xuân Hợp đã nhận được đầy đủ tài liệu hướng dẫn học.

Đỗ Xuân Hợp cùng vợ dành thời gian, tập trung ôn luyện. “Chúng tôi học rất nghiêm chỉnh. Sáng anh lên đồn sớm hơn để trưa về sớm hơn, chiều ở nhà học, góp ý kiến với nhau làm bài. Đều đều hàng tuần chúng tôi gửi bài sang Paris chấm (gửi mở như các tài liệu in, rẻ tiền hơn là gửi kín) và đều đều nhận được những bài làm trước của mình đã được chấm, có điểm, có phê phán tỉ mỉ, kèm theo các bài mẫu hướng dẫn cách làm hoàn hảo”.

Ít lâu sau, có thông báo tuyển trợ lý giải phẫu cho trường Đại học Y ở Hà Nội. Đó là thời cơ để ông về Hà Nội công tác và cũng là ngã rẽ quan trọng bậc nhất trong cuộc đời. Đó là động lực giúp Đỗ Xuân Hợp cố gắng học tập, không quản khó khăn. Bà Thịnh ghi lại: “Việc học của anh vất vả quá: vừa đi làm, vừa học thi tú tài, vừa học thi giải phẫu. Anh học cả chiều, cả tối”.

Sau gần một năm miệt mài với sách vở, cuối năm 1932, hai vợ chồng trở về Hà Nội để thi tuyển. Bấy giờ, toàn Đông Dương có 5 người dự thi, trong đó có 2 người Pháp mà chỉ tiêu thì chỉ lấy có 1. Đỗ Xuân Hợp đỗ đầu và là người duy nhất được nhận vào vị trí trợ lý giải phẫu cho GS Pierre Huard - Giám đốc Viện Giải phẫu, Hiệu trưởng trường Y khoa Đông Dương.

Sau khi thi đỗ, vợ chồng ông từ biệt Bắc Hà trở về Hà Nội bắt đầu một chương mới trong sự nghiệp. Công việc trợ lý cho GS Pierre Huard diễn ra vào các buổi chiều, còn buổi sáng Đỗ Xuân Hợp lên Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt - Đức) làm trợ lý cho GS Solier (người Pháp) về chuyên khoa Tai - Mũi - Họng. Vào buổi tối, ông vẫn tiếp tục học tập theo chương trình hàm thụ ở Pháp để chờ đến kỳ thi tú tài sẽ diễn ra vào mùa hè năm 1933. Do có chứng nhận của trường đại học hàm thụ Pháp ở Paris, Đỗ Xuân Hợp và vợ được dự thi tự do và đỗ trong kỳ thi tú tài năm ấy.

NHÀ GIẢI PHẪU HỌC LỪNG DANH

Từ năm 1934, y sĩ Đỗ Xuân Hợp bắt đầu làm việc với tư cách là trợ lý giải phẫu cho GS Pierre Huard, Giám đốc Viện Giải phẫu, Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội. Ngay trong năm đó, ông có công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về lĩnh vực giải phẫu. Tính từ đó đến năm 1944, ông công bố 88 công trình trên các tạp chí, chuyên san y học của Pháp.

Năm 1942, ông cùng với thầy giáo của mình - GS Pierre Huard hoàn thành và cho xuất bản cuốn sách tiếng Pháp Morphologie humaine et anatomie artistique (Hình thái học nhân thể và giải phẫu học nghệ thuật). Ngay sau khi ra đời, cuốn sách đã tạo ra một tiếng vang lớn trên các diễn đàn y học thế giới lúc bấy giờ. Cuốn sách trở thành tài liệu tham khảo cơ bản, gối đầu giường cho nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau như y học, mỹ thuật, nhân chủng học, khảo cổ học...

Giáo sư Đỗ Xuân Hợp: Vị anh hùng quân y ngoài Đảng. - ảnh 6

Ảnh chụp tháng 5/1976, Giáo sư Đỗ Xuân Hợp tại Đại học Y Hà Nội.

Cùng với tiếng vang của cuốn sách, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngoài được mời giảng dạy tại trường Đại học Y Hà Nội, ông còn được mời giảng dạy cho trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Từ đây trở đi, gia đình ông không phải lo cảnh túng thiếu như trước, vì với danh tiếng của mình, ông được trả lương vào loại cao nhất so với các công chức người Việt dưới sự cai quản của người Pháp.

Ở một khía cạnh khác, giá trị của cuốn sách Morphologie humaine et anatomie artistique không chỉ nằm ở nội dung khoa học của nó. Việc y sĩ Đỗ Xuân Hợp được đứng tên ngang hàng với một vị giáo sư nổi tiếng - Pierre Huard, trong một công trình khoa học có giá trị ở tầm cao đã chứng minh rằng, người Việt Nam không hề kém cỏi.

Bảy năm sau (1949) khi cuốn sách ra đời, Đỗ Xuân Hợp hay tin Viện Hàn lâm Y học Pháp trao tặng giải thưởng Testut - một giải thưởng lớn về y học của Pháp cũng như của ngành giải phẫu quốc tế, cho cuốn sách mà ông và thầy Pierre Huard viết từ năm 1942.

Có thể nói, nhận được giải thưởng này là một vinh dự lớn, là niềm ao ước của bất cứ nhà phẫu thuật nào trên thế giới. Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp chính là người Việt Nam đầu tiên, và hơn 30 năm sau (1980) GS Tôn Thất Tùng mới là người Việt Nam thứ 2 đồng thời là người thứ 10 trên thế giới được nhận giải thưởng cao quý này.

Giải thưởng Testut không chỉ tôn vinh những nhà y học đã có công trình khoa học mang tầm ảnh hưởng lớn, mà giá trị vật chất của nó cũng không hề nhỏ. Nếu sang Paris nhận thưởng, Đỗ Xuân Hợp sẽ được nhận 32.000 USD và được chính phủ Pháp đài thọ chi phí đi lại. Nhưng ông chọn ở lại Việt Bắc, làm việc và chiến đấu với quân và dân ta để ngày đêm cứu chữa thương binh, viết sách và giảng dạy cho sinh viên trường Y.

Giáo sư Đỗ Xuân Hợp: Vị anh hùng quân y ngoài Đảng. - ảnh 7

Y sĩ Đỗ Xuân Hợp (thứ 2 từ trái qua phải, hàng sau) trong thời gian làm việc tại Bắc Hà, Lào Cai (1929-1932). Ảnh: TTDS các nhà khoa học Việt Nam

Sau này, mỗi khi nhớ lại sự kiện năm 1949 ấy, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp vẫn dí dỏm và không hề hối tiếc về quyết định của mình: “Một đêm đông, tôi ngồi biên soạn sách bên ngọn đèn nhỏ. Vợ tôi đang lúi húi tráng bánh cuốn để sáng mai kịp bán hàng. Trong giờ phút vắng vẻ ấy vợ tôi nói người quen từ nội thành ra báo là Viện Hàn lâm Y học Pháp đã tặng giải thưởng Testut cho tôi về một cuốn sách viết chung với GS Huard từ năm 1942.

Nhà nước bảo hộ sẽ sẵn sàng một máy bay trực thăng ở vùng vành đai để đón sang Paris nhận giải thưởng, nếu đồng ý trở về. Tôi mỉm cười, có ý dò xem ý tứ vợ ra sao, nhưng cô ấy lại thoăn thoắt tay xếp bánh, hình như không mấy quan tâm tới tin báo này”.

Ông đã từ bỏ vinh hoa, danh lợi, đã hiến nhà, hiến xe khi đi theo Cách mạng thì còn thiết gì 32.000 USD! Tuy không nói ra, nhưng chắc bà Nguyễn Thị Thịnh đã quá hiểu lựa chọn của ông.

NGƯỜI CỘNG SẢN KHÔNG Ở TRONG ĐẢNG.

Không chỉ nghiên cứu, ông còn là người quan tâm và tìm cách dùng tiếng Việt để giảng dạy cho sinh viên trường Đại học Y. Ông đã bàn với GS Hồ Đắc Di, GS Tôn Thất Tùng để giảng thử môn giải phẫu bằng tiếng Việt cho sinh viên và đã thành công. Đây là dấu mốc quan trọng, mở đường thuận lợi cho các đối tượng người học có thể tiếp thu khoa học mà không bị lệ thuộc vào ngôn ngữ.

Để đáp ứng nhu cầu ngày một bức thiết của công tác đào tạo sinh viên y khoa, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp đã viết cuốn Giải phẫu tứ chi và thực dụng ngoại khoa bằng tiếng Việt in trên giấy dó ở chiến khu Việt Bắc năm 1951. Đây thực sự là một đóng góp có ý nghĩa rất lớn vì lúc đó chưa ai dám viết sách chuyên sâu bằng tiếng Việt vì sợ không đủ thuật ngữ.

Giáo sư Đỗ Xuân Hợp: Vị anh hùng quân y ngoài Đảng. - ảnh 8

 “Đây chính là cuốn giáo trình đầu tiên được viết bằng tiếng Việt”, giúp các cán bộ quân và dân y có tài liệu để nâng cao kiến thức, phục vụ khắp các chiến trường. Cuối năm 1952, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp tiếp tục cho in cuốn sách thứ 2 Giải phẫu bệnh và thực dụng ngoại khoa. Những tài liệu này được tiểu ban giám định gồm các bác sĩ Vũ Đình Tụng, Tôn Thất Tùng, Vũ Văn Cẩn đánh giá, nhận xét tốt. Tin ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh biết đến, Người đã ký tặng cho ông Huân chương Kháng chiến hạng Ba, đồng thời trong một lần tập huấn tại Bộ Y tế, Người tận tay tặng ông một chiếc áo đũi. Về nhà, mở ra xem thì thấy trên chiếc áo có dòng chữ thêu: “Nhân dân Bắc Cạn kính dâng Hồ Chủ tịch!”

Trên cơ sở hai cuốn sách Giải phẫu tứ chi và thực dụng ngoại khoa, Giải phẫu bệnh và thực dụng ngoại khoa, sau khi hòa bình lập lại, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp đã từng bước hoàn chỉnh, bổ sung, viết mới thành một bộ sách giải phẫu, bao gồm 4 cuốn: Giải phẫu đại cương, giải phẫu đầu mặt cổ, Giải phẫu thực dụng ngoại khoa tứ chi, Giải phẫu ngực, Giải phẫu bụng. Đây đều là những cuốn sách gối đầu giường cho bất cứ sinh viên ngành giải phẫu nào ở Việt Nam.

Tính từ năm 1934 đến năm 1985, tức là từ khi bắt tay vào nghiên cứu khoa học đến khi rời cõi tạm, GS Đỗ Xuân Hợp đã công bố 125 công trình về nhân trắc học và hình thái học người Việt Nam. Công trình “Giải phẫu mô tả và nhân trắc học người Việt Nam (1950-1971), được thực hiện trong nhiều năm, kết tụ những nghiên cứu tinh tuý nhất của GS Đỗ Xuân Hợp cho ngành Giải phẫu học Việt Nam đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kỹ thuật đợt đầu tiên (1996), cùng với những nhà khoa học khác như Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Hồ Đắc Di…

Trong những ngày cuối đời tại Viện Quân y 108, GS Đỗ Xuân Hợp được nhận quân hàm Thiếu tướng và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông có lẽ là vị Tướng quân đội hiếm hoi không đứng trong hàng ngũ của Đảng. Có giai thoại kể lại rằng, ông từng gặp Bác Hồ khi làm đơn xin vào Đảng Lao động Việt Nam. Đó cũng là lần ông xúc động và thấm thía nhất khi nghe lời khuyên của Người: "Không phải chú không đủ tiêu chuẩn vào Đảng Lao động Việt Nam. Chú sinh hoạt ở Đảng Xã hội Việt Nam, tranh thủ được trí thức nước ta và trí thức thế giới. Ở Việt Nam, Đảng Xã hội là anh em với Đảng Lao động… Bác đòi hỏi chú là một sự hy sinh, chú có bằng lòng không?". Rồi Bác nắm tay người bác sĩ nói rất chân tình: "Chú Hợp là người cộng sản không ở trong Đảng".

Bác sĩ Vũ Duy San - một người học trò của ông đã đánh giá Thầy của mình là một người vĩ đại: “Sự vĩ đại của một con người khoa học chưa hẳn là những học hàm hay học vị mà có thể lại là sự cống hiến cao nhất, nhiều nhất, trong sáng nhất của người đó cho xã hội, cho khoa học. Sự cống hiến đó có thể âm thầm trong suốt một giai đoạn dài nhưng vẫn giữ nguyên tính vĩ đại, và nhất định có lúc nó phải được đánh giá xứng đáng. Có lẽ, với GS Đỗ Xuân Hợp, cống hiến đã là một lẽ sống. Chính vì vậy nó mang bản chất anh hùng. Thầy của chúng ta xứng đáng là một anh hùng, với đặc trưng giống như bất cứ vị anh hùng kim cổ nào khác.