Khám phá virus viêm gan C Giải mã căn bệnh bí ẩn, khó chữa

Sức khoẻ 25/01/2021 - 09:59

Nobel Y sinh học năm 2020 vinh danh 3 nhà khoa học đã có đóng góp quyết định trong cuộc chiến chống bệnh viêm gan C lây truyền qua đường máu...

Đó là Harvey J. Alter - nhà khoa học người Mỹ tại Viện Y tế Quốc gia (NIH), Michael Houghton là nhà khoa học người Anh làm việc tại Trường đại học Alberta (Canada) và Charles M. Rice, chuyên gia người Mỹ về virus học tại Trường đại học Rockefeller.

Trước đây, việc phát hiện virus viêm gan A và B đã là những bước tiến quan trọng, nhưng phần lớn các trường hợp viêm gan lây truyền qua đường máu vẫn không giải thích được. Việc phát hiện ra virus viêm gan C đã tiết lộ nguyên nhân của những trường hợp viêm gan mạn tính còn lại, có thể làm các xét nghiệm máu và tạo các loại thuốc mới cứu sống hàng triệu người.

Harvey J.Alter: Xác định một dạng viêm gan virus mạn tính mới

Năm 1976, Harvey J. Alter làm việc tại Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ đang nghiên cứu về sự xuất hiện của bệnh viêm gan ở những bệnh nhân được truyền máu. Alter và các đồng nghiệp đã chứng minh một cách đáng lo ngại rằng một số lượng lớn các trường hợp vẫn không giải thích được nguyên nhân. Ông chứng minh là virus gây viêm gan A-HAV và virus gây viêm gan B-HBV không phải là nguyên nhân của những trường hợp không rõ nguyên nhân này. Các nghiên cứu sau đó đã chứng minh tác nhân lây nhiễm chưa được biết đến có các đặc điểm của virus. Theo cách này, các cuộc điều tra có phương pháp của Alter đã xác định được một dạng viêm gan virus mạn tính mới, khác biệt. Căn bệnh bí ẩn được gọi là viêm gan “không phải A, không phải B”. Sau đó, Alter và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng máu từ những bệnh nhân viêm gan này có thể truyền bệnh cho tinh tinh, vật chủ nhạy cảm duy nhất ngoài con người.

Việc xác định loại virus mới lúc đó là ưu tiên hàng đầu. Tất cả các kỹ thuật truyền thống để săn virus đều được đưa vào sử dụng nhưng bất thành, virus đã lẩn tránh sự cô lập trong hơn một thập kỷ.

Khám phá virus viêm gan C Giải mã căn bệnh bí ẩn, khó chữa - ảnh 1 Chân dung 3 nhà khoa học Giải Nobel Y sinh học năm 2020. Michael Houghton: Phát hiện virus viêm gan C

Đến năm 1989, nhà khoa học Michael Houghton cùng với nhóm nghiên cứu của mình thông báo đã chiết đoạn thành công bộ gene của virus gây viêm gan “không phải A, không phải B” tức virus viêm gan C và “virus không phải A, không phải B” được đổi tên là virus viêm gan C (HCV) được công bố trong bài báo trên tạp chí Science.

Michael Houghton đã đảm nhận công việc gian khổ và cần thiết để phân lập trình tự di truyền của virus. Houghton và các đồng nghiệp đã tạo ra một bộ sưu tập các đoạn DNA từ các acid nucleic có trong máu của một con tinh tinh bị nhiễm siêu vi gan bí ẩn không thuộc loại siêu vi A và siêu vi B. Phần lớn những mảnh vỡ này đến từ bộ gene của chính tinh tinh, nhưng các nhà nghiên cứu dự đoán rằng một số có thể có nguồn gốc từ loại virus chưa được biết đến.

Với giả định rằng các kháng thể chống lại virus sẽ có trong máu được lấy từ bệnh nhân viêm gan, các nhà điều tra đã sử dụng huyết thanh của bệnh nhân để xác định các đoạn DNA virus được nhân bản mã hóa protein virus. Sau khi tìm kiếm toàn diện, một bản sao tích cực đã được tìm thấy. Các nghiên cứu sâu hơn cho thấy bản sao này có nguồn gốc từ một loại virus RNA mới thuộc họ Flavivirus và nó chính là virus viêm gan C. Houghton và cộng sự đã liên kết mối quan hệ giữa viêm gan C và ung thư gan trong nhiều nghiên cứu khác.

Charles M. Rice: Tìm ra cách thức gây bệnh của viêm gan C

Việc phát hiện ra virus viêm gan C có ý nghĩa quyết định. Nhưng có câu hỏi là liệu virus mà Michael Houghton phát hiện có thể gây ra bệnh viêm gan? Để trả lời câu hỏi này, các nhà khoa học đã phải điều tra xem liệu virus nhân bản có thể gây bệnh hay không.

Charles M. Rice, một nhà nghiên cứu tại Đại học Washington ở St. Louis, cùng với các nhóm khác làm việc với virus RNA, đã ghi nhận một vùng chưa được xác định trước đây ở cuối bộ gene virus viêm gan C mà họ nghi ngờ có thể quan trọng đối với sự nhân lên của virus. Rice đã quan sát các đột biến di truyền trong các mẫu virus cô lập và đưa ra giả thuyết rằng một số trong các đột biến này có thể cản trở sự nhân lên của virus.

Năm 1997, thông qua kỹ thuật di truyền, Rice đã tạo ra RNA mới của virus viêm gan C bao gồm vùng được xác định của bộ gene virus mà không có đột biến cản trở sự nhân lên của virus. Khi RNA này được tiêm vào gan của tinh tinh, virus đã được nhân lên, phát hiện trong máu và gây những bệnh lý giống như những gì đã thấy ở người mắc bệnh viêm gan mạn tính. Đây là bằng chứng cuối cùng cho thấy chỉ riêng virus viêm gan C có thể gây ra các trường hợp viêm gan qua trung gian truyền máu trước đây không giải thích được.

Chính nhờ Charles Rice dày công tìm hiểu trong nhiều năm cách thức virus nhân lên, để rồi nhờ vào những nghiên cứu này mà khoa học đã tìm ra cách xét nghiệm máu tìm bệnh do nhiễm virus. Cũng nhờ đó tìm cách tạo ra thuốc điều trị mới mang tính cách mạng trong những năm 2010 trị viêm gan siêu vi C. Đó chính là thuốc sofosbuvir - một nucleotide tương đồng 2'-deoxy-2'-α-fluoro-β-C-methyluridine-5'-triphosphate, ngăn sự tổng hợp RNA tạo virus mới, tức ngăn chặn sự nhân lên của virus, virus không phát triển được sẽ bị tiêu diệt.

Như vậy, các nghiên cứu về bệnh viêm gan do truyền máu của nhà khoa học Harvey J. Alter đã chứng minh rằng một loại virus không xác định là nguyên nhân phổ biến của bệnh viêm gan mạn tính. Trong khi đó, nhà khoa học Michael Houghton đã sử dụng chiến lược chưa được thử nghiệm trước đây để phân lập bộ gene của virus viêm gan C. Còn nhà khoa học Charles M. Rice đã cung cấp bằng chứng cuối cùng cho thấy chỉ riêng virus viêm gan C có thể gây ra bệnh viêm gan bằng cách nhân lên và phát triển trong gan người bệnh.

Khám phá của họ cũng cho phép phát triển nhanh chóng của các loại thuốc kháng virus nhắm vào bệnh viêm gan C. Lần đầu tiên trong lịch sử, căn bệnh này hiện có thể được chữa khỏi, làm dấy lên hy vọng loại bỏ virus viêm gan C trong tương lai.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức