Không nơi lỏng trong quản lý vùng trồng được cấp mã số

Kinh tế 23/09/2020 - 00:22

Nếu không được cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thì nông sản Việt Nam không đủ điều kiện xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu. Điều này cho thấy việc đảm bảo quản lý tốt vùng trồng, không bị mạo danh mã số vùng trồng,…là những vấn đề cấp thiết đặt ra để nông sản Việt Nam được thuận đường xuất khẩu.

Không nơi lỏng trong quản lý vùng trồng được cấp mã số - ảnh 1

Đã cấp được 998 mã số vùng trồng đối với các thị trường “khó tính”

Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cho biết, việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói hiện nay đang được triển khai thực hiện theo quy định của nước nhập khẩu. Theo đó, chỉ có nông sản (chủ yếu là rau quả tươi) được sản xuất từ vùng trồng, cơ sở đóng gói mới được phép xuất khẩu sang các nước như: Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc… và gần đây nhất là Trung Quốc. Nếu không được cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thì nông sản không đủ điều kiện xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu.

Đến nay, đối với các thị trường “khó tính”, đã cấp được 998 mã số vùng trồng, trong đó các mã số được cấp nhiều nhất là cho thị trường Hoa Kỳ (471), tiếp đó là Úc và New Zealand (393), Hàn Quốc (199) và cuối cùng là các thị trường Thái Lan, Nhật Bản, EU. Ngoài ra cũng đã cấp 47 mã số cơ sở đóng gói cho nông sản xuất khẩu sang các thị trường này.

Đối với thị trường Trung Quốc, tính đến tháng 8/2020, đã có 47 tỉnh gửi văn bản đề nghị và đã cấp được 1.735 mã số vùng trồng với diện tích trên 180. 000 ha cho 9 loại quả tươi (thanh long, xoài, nhãn, vải, chôm chôm, dưa hấu, chuối, mít và măng cụt) đã được xuất khẩu chính ngạch và 1.832 mã số cơ sở đóng gói. Trong số này, xoài, nhãn, thanh long là các sản phẩm có nhiều mã số vùng trồng được cấp nhất. Riêng đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long, hiện đã cấp 628 mã vùng trồng và 924 cơ sở đóng gói phục xuất khẩu đi thị trường Trung Quốc.

Việc quản lý mã số tại một số địa phương vẫn còn lỏng lẻo

Thời gian qua, việc kiểm tra và giám sát các vùng trồng, cơ sở đóng gói tại các địa phương được thực hiện về cơ bản đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên, tháng 6/2020 vừa qua, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã thông báo cho cơ quan Kiểm dịch thực vật Việt Nam về 220 lô xoài (khoảng 3.300 tấn trong tổng số 750.000 tấn đã xuất khẩu sang Trung Quốc trong năm 2019 và 2020 – chiếm khoảng 0,43% tổng lượng xuất khẩu) vi phạm quy định về kiểm dịch thực vật với nhiều nguyên nhân khác nhau. Phía Trung Quốc yêu cầu tạm ngưng xuất khẩu xoài từ 12 vùng trồng và 18 cơ sở đóng gói có liên quan để phối hợp tiến hành điều tra nguyên nhân. Trong đó, nhiều nhất là Tiền Giang (có 15 mã số nhà đóng gói và vùng trồng), tiếp đến là An Giang (7 mã) và Vĩnh Long (2 mã).

Theo Cục Bảo vệ Thực vật, mặc dù tỷ lệ số mã số cơ sở đóng gói và vùng trồng đang bị phía Trung Quốc tạm ngưng xuất khẩu là không lớn, nhưng đây là một “tín hiệu” cho thấy công tác kiểm tra, giám sát và quản lý mã số vùng trồng đối với các nông sản xuất khẩu cần được rà soát, chấn chỉnh kịp thời. Nếu không kiểm tra, giám sát tốt các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nông dân. Thậm chí nguy cơ mất thị trường, không thể tiếp tục xuất khẩu là rất cao nếu thường xuyên có các vùng trồng, cơ sở đóng gói vi phạm quy định của nước nhập khẩu.

Không chỉ vậy, nhận định của Cục Bảo vệ Thực vật cho thấy, hiện, việc quản lý, giám sát mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói vẫn còn tồn tại một số bất cập khác. Có thể kể đến như: Việc quản lý mã số tại một số địa phương vẫn còn lỏng lẻo, chưa được chú trọng, chưa xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát vùng trồng, cơ sở đóng gói sau khi được cấp mã số. Sự liên kết giữa vùng trồng, cơ sở đóng gói được cấp mã với các cơ quản lý ở địa phương, trung ương để kiểm soát hàng hóa xuất khẩu còn chưa được chặt chẽ.

Bên cạnh đó, rất nhiều địa phương chưa phân công cho một cơ quan chuyên môn làm đầu mối để thực hiện quản lý, giám sát và hướng dẫn đối với việc kiểm tra và quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói. Điều này dẫn tới việc không thống nhất trong quá trình xử lý công việc.

Về phía doanh nghiệp xuất khẩu, đã xuất hiện tình trạng các doanh nghiệp sử dụng không đúng mã số, mạo danh mã số của nhau để xuất khẩu. Điều này không những gây ảnh hưởng đến uy tín hàng trái cây Việt Nam xuất khẩu mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến các đơn vị chủ sở hữu mã số.

Các doanh nghiệp cần chủ động bảo vệ mã số vùng trồng của mình

Để việc quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được hiệu quả trong thời gian tới, Bộ NN&PTNT cho biết, sẽ tiếp tục chỉ đạo hình thành liên kết chuỗi sản phẩm từ vùng trồng, nhà đóng gói, nhà xuất khẩu, địa phương và cơ quan quản lý nhà nước để ngăn chặn tình trạng đưa sản phẩm từ ngoài vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói chưa có mã số vùng trồng vào chuỗi sản phẩm và kiểm soát khâu xuất khẩu.

Cục Bảo vệ Thực vật hướng dẫn các địa phương thực hiện rà soát lại hiện trạng cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và việc sử dụng mã số tại các địa phương để làm cơ sở đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng các mã số vùng trồng đã cấp. Đồng thời, chủ động làm việc với cơ quan Kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu thảo luận các biện pháp phối hợp trao đổi thông tin trong quản lý các mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói khi tình hình dịch COVID-19 đã cơ bản được kiểm soát.

Tại địa phương, cần phân công cụ thể cán bộ và cơ quan đầu mối trong quản lý, giám sát các vùng trồng, cơ sở đóng gói được cấp mã số. Tăng cường mối liên kết với các vùng trồng, các cơ sở đóng gói để kiểm soát hàng hóa xuất khẩu từ các vùng trồng và tránh việc mạo danh mã số cũng như các hành vi vi phạm liên quan đến sử dụng mã số.

Đối với các doanh nghiệp, cần chủ động các biện pháp bảo vệ mã số của mình, kịp thời thông báo cho các cơ quan quản lý khi phát hiện các vi phạm liên quan đến sử dụng mã số để cùng phối hợp xử lý.Thông tin thường xuyên với các cơ quan quản lý về vùng trồng, nhà đóng gói cũng như quản lý hàng hóa xuất khẩu từ những mã số của mình.

Cũng theo Cục Bảo vệ Thực vật, các doanh nghiệp xuất khẩu nên chủ động vùng nguyên liệu bằng cách liên kết với các vùng trồng đã được cấp mã số để giữ vững và nâng cao chất lượng nông sản./.

Theo Cục Bảo vệ Thực vật, các vùng trồng được cấp mã số phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Nhận diện được vùng trồng (thường sử dụng GPS)

- Áp dụng thực hành nông nghiệp tốt, trong đó chú trọng đến công tác ghi chép nhật ký canh tác. Nhật ký canh tác phải được lưu trữ, bảo quản tốt để phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra.

- Theo dõi thường xuyên tình hình sinh vật gây hại

- Thực hiện tốt vệ sinh đồng ruộng

- Thực hiện tốt các biện pháp canh tác, phòng trừ sinh vật gây hại và thu hoạch để đảm bảo mật độ sinh vật gây hại luôn ở mức thấp.

- Đảm bảo không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép theo quy định của nước nhập khẩu.

- Các yêu cầu khác tùy thuộc vào thị trường nhập khẩu và loại sản phẩm nông sản mục tiêu.

Đối với từng thị trường khác nhau, các quy định liên quan đến cấp mã số vùng trồng có thể khác nhau nhưng tựu chung lại, mục tiêu của việc cấp, quản lý và giám sát vùng trồng đã được cấp mã số nhằm để đảm bảo truy xuất được đến từng vườn trồng, cơ sở đóng gói về các loại sinh vật gây hại đã phát hiện trên vườn trồng, các biện pháp quản lý sinh vật gây hại đã được sử dụng trên vườn trồng, đặc biệt là ghi nhận về các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón đã sử dụng. Đồng thời, mỗi mã số vùng trồng được cấp không phải không có thời hạn mà theo định kỳ, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành giám sát để đảm bảo vùng trồng vẫn đang được quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu đặt ra. Trường hợp không đạt yêu cầu theo quy định của nước nhập khẩu, mã số sẽ bị thu hồi.

Đối với thị trường “khó tính” như: EU, Mỹ, New Zealand, Hàn Quốc…, các quy định về vùng trồng, cơ sở đóng gói được thể hiện trong các bản điều kiện nhập khẩu hoặc Kế hoạch thực hiện đối với từng loại nông sản cụ thể. Cũng có một số loại sản phẩm thực hiện theo một văn bản quy định chung của nước nhập khẩu.

Việt Nam đã đưa quy định về cấp và quản lý mã số vùng trồng vào Luật Trồng trọt (Điều 64). Theo đó, giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thông hướng dẫn về việc cấp mã số vùng trồng này.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã giao cho Cục Bảo vệ Thực vật xây dựng Tiêu chuẩn Việt Nam về việc thiết lập và giám sát vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Dự kiến sẽ trình ban hành trong năm 2020.

BT