Khu vực Đông Á- Thái Bình Dương đã ''chèo lái'' qua cơn bất ổn

Thế giới 04/10/2018 - 16:56

Đó là nhận định được Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra tại Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á- Thái Bình Dương tháng 10/2018.

Tăng trưởng khu vực tích cực

Các chuyên gia của WB cũng đã chỉ ra rằng, dù môi trường bên ngoài kém thuận lợi, nhưng triển vọng tăng trưởng ở các quốc gia đang phát triển của khu vực Đông Á- Thái Bình Dương vẫn tích cực. Tăng trưởng ở khu vực Đông Á- Thái Bình Dương dự kiến đạt 6,3% trong năm 2018, thấp hơn so với năm 2017 do tăng trưởng của Trung Quốc tiếp tục chững lại.

Có thể bạn quan tâm
  • Khu vực Đông Á- Thái Bình Dương đã ''chèo lái'' qua cơn bất ổn - ảnh 1

    World Bank: Tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt khoảng 6.8%

    11:46, 04/10/2018

  • Khu vực Đông Á- Thái Bình Dương đã ''chèo lái'' qua cơn bất ổn - ảnh 2

    World Bank nói về công thức thành công của Việt Nam

    04:26, 02/05/2018

  • Khu vực Đông Á- Thái Bình Dương đã ''chèo lái'' qua cơn bất ổn - ảnh 3

    World Bank: CPTPP bổ sung động lực thu hút đầu tư của Việt Nam

    12:11, 09/03/2018

  • Khu vực Đông Á- Thái Bình Dương đã ''chèo lái'' qua cơn bất ổn - ảnh 4

    World Bank: nền kinh tế Việt Nam 2017ổn định vĩ mô những vẫn tiềm ẩn rủi ro

    14:49, 11/12/2017

Bà Victoria Kwakwa – Phó Chủ tịch WB phụ trách khu vực Đông Á- Thái Bình Dương cho biết: “Tăng trưởng vững đã, đang và sẽ tiếp tục là yếu tố chính để giảm nghèo và tình trạng dễ tổn thương trong khu vực Đông Á- Thái Bình Dương. Chủ nghĩa bảo hộ và biến động trên thị trường tài chính có thể gây tổn hại đến viễn cảnh tăng trưởng trong trung hạn, trong đó người nghèo là những người dễ tổn thương nhất, do họ phải chịu những hậu quả bất lợi nhất. Đây cũng là lúc các nhà hoạch định chính sách trong khu vực phải cảnh giác và chủ động tăng cường khả năng chống chịu và đương đầu của quốc gia”.

Khu vực Đông Á- Thái Bình Dương đã ''chèo lái'' qua cơn bất ổn - ảnh 5

Tăng trưởng ở khu vực Đông Á- Thái Bình Dương dự kiến đạt 6,3% trong năm 2018.

Tăng trưởng của Trung Quốc dự kiến sẽ chậm lại còn 6,5% trong năm 2018, sau khi đạt được mức tăng trưởng cao hơn dự kiến trong năm 2017. Tăng trưởng ở các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Á- Thái Bình Dương, ngoại trừ Trung Quốc, dự kiến vẫn ổn định ở mức trung bình 5,3% từ năm 2018 đến năm 2020, chủ yếu nhờ nhu cầu trong nước. Tăng trưởng của Thái Lan và Việt Nam dự kiến sẽ đứng vững trong năm 2018 trước khi chững lại trong năm 2019 và 2020 do cầu trong nước mạnh hơn, nhưng cũng chỉ bù đắp được một phần tăng trưởng xuất khẩu ròng chững lại. Indonesia giữ được tăng trưởng ổn định nhờ triển vọng về đầu tư và tiêu dùng tư nhân được cải thiện. Tăng trưởng của Phillipines trong năm 2018 sẽ chậm lại, nhưng đầu tư công tăng lên theo dự kiến, sẽ đẩy mạnh tăng trưởng trong trung hạn. Tăng trưởng của Malaysia dự kiến sẽ chững lại do tăng trưởng xuất khẩu giảm và đầu tư công cũng đang giảm xuống do hủy bỏ hai dự án hạ tầng lớn với sự tài trợ của Trung Quốc.

 

Trong khi đó, triển vọng tăng trưởng ở các nền kinh tế nhỏ hơn trong vực Đông Á- Thái Bình Dương vẫn vững, ở mức bình quân trên 6% mỗi năm tại Campuchia, Lào, Mông Cổ và Malaysia trong giai đoạn từ năm 2018 đến 2020. Tăng trưởng tại Đông Timo dự kiến sẽ khôi phục sau khi bế tắc chính trị được giải quyết, còn Papua New Guinea dự kiến sẽ phục hồi trong năm 2019 sau trận động đất lớn hồi đầu năm nay. Tăng trưởng ở các quốc đảo Thái Bình Dương được cho là vẫn tương đối ổn định, dù rất dễ bị tổn thương bởi những cú sốc thiên tai.

“Hội nhập khu vực và toàn cầu khiến cho nhiều nền kinh tế trong khu vực dễ bị tổn thương hơn với những cú sốc bên ngoài. Những rủi ro chính đối với duy trì tăng trưởng của khu vực bao gồm chủ nghĩa bảo hộ, biến động trên thị trường tài chính, kết hợp với tình trạng tài chính và ngân sách trong nước dễ tổn thương”, ông Sudhir Shetty – Chuyên gia Kinh tế trưởng WB, cho biết và nhấn mạnh, trong bối cảnh rủi ro tăng lên, các nền kinh tế đang phát triển ở khu vực Đông Á- Thái Bình Dương cần vận dụng đầy đủ các chính sách tái cơ cấu, cẩn trọng kinh tế vĩ mô sẵn có để bình ổn các cú sốc bên ngoài và nâng cao tốc độ tăng trưởng tiềm năng.

Triển vọng nào cho Việt Nam?

Theo WB, triển vọng trung hạn của Việt Nam tiếp tục được cải thiện. Tăng trưởng GDP dự báo sẽ đạt khoảng 6,8% trong năm 2018, so với mức 6,5% được dự báo hồi đầu tháng 4/2018, trước khi chững lại ở mức 6,6% năm 2019 và 6,5% năm 2020 do sức cầu trên toàn cầu dự kiến chững lại theo chu kỳ. Mặc dù nền kinh tế có khởi sắc hơn, nhưng dự kiến lạm phát vẫn xoay quanh chỉ tiêu 4% của Chính phủ, với điều kiện chính sách tiền tệ được thắt chặt phần nào, nhằm đối phó với áp lực về giá đầu vào trong nước và giá thương phẩm tăng trên toàn cầu. Về kinh tế đối ngoại, cân đối tài khoản vãng lai ước tính sẽ tiếp tục thặng dư trong ngắn hạn, nhưng mức độ thặng dư sẽ giảm dần từ năm 2019 do thậm hụt tăng lên ở tài khoản thu nhập và dịch vụ. Tình hình ngân sách được củng cố, dự kiến sẽ kiềm chế được nợ công trong kỳ dự báo.

Cho dù triển vọng trước mắt được cải thiện, nhưng rủi ro của Việt Nam vẫn ở mức cao. Nhìn từ trong nước, tiến trình tái cơ cấu khu vực ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước chậm lại, có thể tác động bất lợi đến tình hình tài chính vĩ mô, làm suy giảm triển vọng tăng trưởng, và tạo ra nghĩa vụ lớn cho khu vực nhà nước. Những rủi ro bên ngoài bao gồm chủ nghĩa bảo hộ leo thang, bất định địa chính trị trong khu vực và trên toàn cầu tăng lên, các điều kiện huy động vốn trên toàn cầu tiếp tục được thắt chặt, có thể dẫn đến những biến động gây xáo trộn trên thị trường tài chính.

WB khuyến nghị, các nhà hoạch định chính sách cần tận dụng môi trường kinh tế thuận lợi để đẩy mạnh những chính sách làm tăng khả năng chống chịu về kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong tương lai. Chính sách tiền tệ cần điều chỉnh lượng thanh khoản trong khu vực ngân hàng sao cho lãi suất liên ngân hàng gắn với lãi suất chính sách, và đưa tăng trưởng tín dụng về mức phù hợp với các yếu tố căn bản. Nỗ lực trên có thể được bổ trợ bằng các biện pháp cẩn trọng vĩ mô nhằm ngăn ngừa tình trạng dành tín dụng quá mức cho các lĩnh vực rủi ro cao nhưn bất động sản hay tiêu dùng cá nhân. Hơn nữa, các bước nhằm tăng cường giám sát khu vực ngân hàng, xử lý nợ xấu, củng cố tỷ lệ an toàn sẽ không chỉ giảm rủi ro về bất ổn định tài chính mà còn đem lại những cải thiện về trung gian tài chính, góp phần nâng cao tăng trưởng trong trung hạn. Tỷ giá hối đoái, nếu được quản lý chủ động và linh hoạt hơn, có thể giúp giảm thiểu rủi ro do những biến động kinh tế từ bên ngoài.

Về chính sách tài khóa của Việt Nam, WB cho rằng mục tiêu tiếp theo là giảm bội chi, đòi hỏi phải có một chiến lược tổng thể nhằm nâng cao hiệu suất chi tiêu và duy trì bền vững tiềm năng thu trong trung hạn. Bên cạnh chính sách kinh tế vĩ mô, cần tiếp tục chú trọng cải cách cơ cấu sâu rộng, bao gồm cả những cải cách pháp lý nhằm xóa bỏ rào cản và giảm chi phí hoạt động của khu vực tư nhân, đầu tư cho nguồn nhân lực và hạ tầng chất lượng cao, tiếp tục cải cách nhằm nâng cao năng suất trong khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Một số địa phương vừa phải hứng chịu thiên tai bão lũ trong thời gian qua. Do đó, WB khuyến cáo cần có các biện pháp giảm thiểu biến đổi khí hậu để phòng ngừa tình trạng dễ tổn thương cho các hộ gia đình ở Việt Nam trước các cú sốc thiên tai.

Việt Nga