Lưu ý cho sĩ tử thi môn Văn tốt nghiệp THPT 2020

Giáo dục 05/08/2020 - 11:28

Những tuần cuối trước kỳ thi là thời gian quan trọng để sĩ tử tổng duyệt kiến thức trọng tâm, kỹ năng làm bài, tâm lý...

Tiến sĩ Trịnh Thu Tuyết, giáo viên môn Ngữ Văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI chia sẻ những lưu ý tới các sĩ tử trước thềm kỳ thi Tốt nghiệp THPT 2020.

Nội dung kiến thức ôn luyện cần lưu ý

Từ nay tới ngày thi tốt nghiệp THPT còn chưa đầy một tháng, các em cần tích cực rà soát lại những đơn vị kiến thức cơ bản trong toàn bộ chương trình Ngữ văn lớp 12 (sau khi đã tinh giản theo hướng dẫn của Bộ GD & ĐT), đồng thời kiểm tra lại hệ thống kỹ năng đáp ứng từng loại câu hỏi trong đề thi.

Đặc biệt, các em không học tủ, bởi sau khi tinh giản phần kiến thức học kỳ II lớp 12, chương trình Ngữ văn không còn nhiều. Sĩ tử nên ôn tập theo những đơn vị kiến thức cơ bản trong mô hình đề thi mấy năm nay với ba phần: kiểu bài đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài nghị luận văn học.

Bài đọc hiểu: Ôn lại hệ thống kiến thức Tiếng Việt từ THCS tới THPT, kiến thức Làm văn và Văn học, luyện kỹ năng trả lời câu hỏi theo các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao.

Đoạn văn nghị luận xã hội: Học sinh cần nắm chắc kỹ năng viết đoạn; phân biệt đoạn văn với bài văn thu nhỏ, có ý thức cập nhật, tích lũy kiến thức xã hội.

Bài nghị luận văn học chiếm quỹ điểm cao nhất trong bài thi, cũng là bài cần huy động nhiều thời gian hơn cả. Các em tập trung vào 9 tác phẩm văn học (bốn tác phẩm thơ: Tây Tiến, Việt Bắc, Đất Nước, Sóng; hai đoạn trích văn xuôi trữ tình: Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông; ba đoạn trích văn xuôi tự sự: Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Chiếc thuyền ngoài xa), ngoài ra ôn tập thêm tác phẩm chính luận Tuyên ngôn độc lập, các bài tác giả (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh; Tố Hữu, Nguyễn Tuân), các bài Tự học có hướng dẫn như một phần Rừng xà nu, Hồn Trương Ba da hàng thịt...

Lưu ý cho sĩ tử thi môn Văn tốt nghiệp THPT 2020 - ảnh 1

Tiến sĩ Trịnh Thu Tuyết, giáo viên môn Ngữ Văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI.

Kỹ năng làm bài với từng dạng câu hỏi trong đề thi

Cấu trúc đề thi môn Ngữ văn những năm gần đây, cũng như theo mô hình đề tham khảo lần hai năm 2020 cho kỳ thi Tốt nghiệp THPT về cơ bản không thay đổi với hai phần, ba câu; phần Đọc hiểu 3 điểm, phần Làm văn có hai câu chiếm 7 : câu viết đoạn văn nghị luận xã hội 2 điểm, bài nghị luận văn học 5 điểm.

Phần đọc hiểu luôn gồm một ngữ liệu đọc hiểu, có thể là thơ hoặc văn xuôi, có thể là bất kỳ phong cách ngôn ngữ nào các em đã được học; sau đó là bốn câu hỏi đọc hiểu sắp xếp theo các cấp độ nhận thức từ nhận biết, thông hiểu, vận dụng tới vận dụng cao. Các em cần nhận ra những tín hiệu của từng kiểu loại câu hỏi để có phương pháp trả lời phù hợp, tránh trả lời thừa hoặc thiếu.

Ví dụ: câu hỏi nhận biết thường tập trung vào hai yêu cầu: Thứ nhất là yêu cầu xác định một đặc điểm của hình thức văn bản như thể thơ/ phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt... (thường có cụm từ "Xác định.../ Chỉ ra... phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt chính/ cơ bản...). Thứ hai là yêu cầu tìm những chi tiết thuộc về nội dung văn bản phù hợp với nội dung định hướng trong câu lệnh; thường có cụm từ "Theo tác giả/ Theo đoạn trích/ trong đoạn trích/ dựa vào đoạn trích...". Khi làm bài, học sinh cần đọc kỹ ngữ liệu, xác định đúng đặc điểm hình thức văn bản hoặc chi tiết nội dung văn bản, không phân tích diễn giải.

Câu hỏi thông hiểu thường yêu cầu giải thích cách hiểu nội dung một khái niệm/ nhận định/câu văn/ câu thơ... trong văn bản. (Anh/ chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào "Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng/ Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm"? – Đề THPT QG 2019; Anh, chị hiểu như thế nào về câu: Anh hùng không phải mẫu người hoàn hảo vì chẳng có ai hoàn hảo? – Đề tham khảo lần 1/ 2020). Học sinh cần giải thích nghĩa đen/ nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ, biểu tượng (nếu có) của khái niệm/ nhận định.

Câu hỏi vận dụng (thấp) yêu cầu xác định và phân tích giá trị của biện pháp tu từ, tác dụng của việc sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt, sử dụng từ ngữ... trong câu/ đoạn văn bản. (Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ... - Đề THPT Quốc gia năm 2015). Học sinh cần vận dụng kiến thức tiếng Việt, tu từ học, văn học, cuộc sống... để xác định đúng và phân tích giá trị biểu đạt (diễn đạt nội dung gì?) và giá trị biểu cảm (đưa tới cảm xúc gì?).

Câu hỏi vận dụng cao thường yêu cầu thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, thái độ và nhất là quan điểm cá nhân trước một nhận định/ thông điệp/ vấn đề đặt ra trong văn bản đọc hiểu. Ví dụ: Hành trình theo đuổi khát vọng của con người được thể hiện trong đoạn trích gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? (Đề THPT Quốc gia năm 2019) / Anh, chị có đồng tình với quan niệm: Chúng ta đều mắc sai lầm nhưng điều đó không phủ nhận những cống hiến của chúng ta trong cuộc đời? Vì sao? (Đề tham khảo lần 1/2020)... Với dạng câu hỏi này, học sinh trả lời ngắn gọn, trung thực những suy nghĩ, xúc cảm cá nhân, tránh khuôn mẫu, sáo rỗng, hô khẩu hiệu.

Hoặc với dạng câu hỏi "Anh/chị có đồng tình...?/ Vì sao", học sinh cần xác định đúng suy nghĩ, nhận thức của mình để luận bàn cho thấu đáo, chặt chẽ. Hoàn toàn có thể xuất hiện nhiều phương án: đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình nhưng có giới hạn, điều kiện, ngoại lệ... Phần quan trọng nhất là trả lời câu hỏi "Vì sao?" với lập luận chặt chẽ và trung thực, thuyết phục.

Câu viết đoạn văn nghị luận xã hội luôn có nội dung nghị luận quan hệ hữu cơ với nội dung chính của ngữ liệu đọc hiểu. Học sinh cần chú ý đảm bảo hai yêu cầu về nội dung và hình thức của đoạn văn: Về nội dung, chỉ nghị luận một khía cạnh, một bình diện của vấn đề (nguyên nhân/ ý nghĩa/ hậu quả/ giải pháp/ bài học...); về hình thức, cần viết đúng cấu trúc đoạn, viết đúng dung lượng theo yêu cầu trong câu lệnh của đề bài.

Bài nghị luận văn học chiếm quỹ điểm cao nhất trong đề thi, đòi hỏi các em dành nhiều thời gian và tâm sức. Cần xác định yêu cầu nghị luận thể hiện trong đề bài, đặc biệt trong câu lệnh, phác sơ lược hướng triển khai nội dung nghị luận để quá trình viết không lan man hoặc sơ sài. Những kiến thức khái quát về tác giả, tác phẩm, những giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung của tác phẩm là mảng kiến thức các em cần lưu ý khi ôn luyện.

Lời khuyên dành cho sĩ tử trong quá trình ôn luyện nước rút

Theo cô Tuyết, sĩ tử cần phân bố thời gian hợp lý, như có thể dành thời gian ôn tập lần cuối cho các tác phẩm văn học chính, kết hợp luyện đề. Các em có thể kết hợp giữa việc tự ôn luyện với tận dụng thêm các kênh học online phù hợp, tuy nhiên, thế giới mạng trùng điệp các kênh dạy học trực tuyến - các em nên có lựa chọn tỉnh táo để tìm đúng thầy, đúng kênh uy tín, luyện đề theo những cơ sở giáo dục có chất lượng được kiểm chứng qua thời gian.

Để làm tốt câu hỏi đọc hiểu và câu viết đoạn văn nghị luận xã hội, học sinh cần dành thời gian cập nhật thông tin thời sự. Có thêm sự hiểu biết về cuộc sống xã hội sẽ là nguồn kiến thức phong phú giúp các em hoàn thành tốt câu nghị luận xã hội.

Ngoài ra, những sai sót học sinh hay mắc phải khi làm bài thi môn Ngữ văn tập trung nhiều vào phần kỹ năng: Thứ nhất là kỹ năng trả lời câu hỏi Đọc hiểu, các em thường lúng túng khi xác định phương thức biểu đạt hoặc phong cách ngôn ngữ của văn bản, nhiều khi chưa phân biệt các cấp độ yêu cầu của bốn câu hỏi đọc hiểu, khiến sa đà phân tích ở câu nhận biết, nhưng lại sơ sài trong câu thông hiểu, hoặc chưa tự tin thể hiện suy nghĩ, cách kiến giải độc lập của mình trong câu hỏi vận dụng.

Thứ hai là kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội, các em hay nhầm lẫn và viết thành dạng bài văn thu nhỏ, nhiều khi viết khuôn sáo, hời hợt, chưa thể hiện cái tôi độc lập trong tư duy... Cuối cùng là kiến thức và kỹ năng viết bài nghị luận văn học, học trò nhiều khi không nắm vững kiến thức tác phẩm, không nhớ chính xác các chi tiết văn xuôi hoặc các câu thơ quan trọng, phần nghị luận nhiều khi hời hợt, thậm chí viết theo văn mẫu, sai lạc với yêu cầu của đề bài.

Để điều chỉnh những sai sót đó, các em cần học hỏi theo định hướng, điều chỉnh của thầy cô, ôn luyện cho thành thục - quan trọng nhất trong tất cả kiểu dạng bài là rèn kỹ năng xác định đúng yêu cầu của đề, kỹ năng diễn đạt chuẩn xác, sáng tạo và độc lập.

Thế Đan