“Ăn bằng đũa và nói tiếng Pháp”

Xã hội 21/07/2013 - 09:38

Cách đây 40 năm, năm 1973, sau Hiệp định Paris chấm dứt sự có mặt của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, hàng loạt các nước, chủ yếu là  phương Tây lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Vì thế, năm nay, có rất nhiều sự kiện được tổ chức để ghi nhận chặng đường 40 năm...

no imageChủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng tiếp ông Jean Sainteny sau lễ trình ủy nhiệm chức.

Cách đây 40 năm, năm 1973, sau Hiệp định Paris chấm dứt sự có mặt của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, hàng loạt các nước, chủ yếu là  phương Tây lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Vì thế, năm nay, có rất nhiều sự kiện được tổ chức để ghi nhận chặng đường 40 năm ấy.

Cộng hoà Pháp cũng nằm trong sự kiện chung đó, nhưng ai cũng biết, giữa hai quốc gia này có hệ luỵ lịch sử không chỉ ngắn ngủi như thế. Nhìn nhận lại lịch sử Việt-Pháp nói riêng, với các nước phương Tây nói chung cũng giúp ta hiểu được mình hơn trên con đường hội nhập với thế giới từ trong truyền thống tồn tại với “Không gian Trung Hoa” tới thời đại hội nhập với toàn thế giới còn lại.                           

Cho dù ngày hôm nay, ở Việt Nam, tiếng Pháp chỉ còn là một ngoại ngữ trong số nhiều ngoại ngữ đang được giảng dạy tại các trường học. Số người học và biết Pháp ngữ đã thua xa Anh ngữ và có thể sẽ sau cả Hoa ngữ… nhưng nước Việt Nam vẫn là một quốc gia có mặt trong “Cộng đồng các quốc gia nói tiếng Pháp” (Francophone).

Đến nay, mọi người Việt Nam khi thực hiện một việc tối quan trọng là ăn, đều dùng đũa, mặc dầu có nhiều người đã quen dùng đến thìa nĩa. Nước Việt Nam vẫn xếp mình vào hàng ngũ các “quốc gia ăn bằng đũa”, đặc trưng của các nước ở Đông Á, chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa.

Việt Nam là một quốc gia đã có ngót một thế kỷ là thuộc địa của nước Pháp. Việt Nam cũng lại là một quốc gia  có hơn một thiên niên kỷ bị coi là “quận, huyện” của Trung Hoa. Như thế, ăn bằng đũa và nói tiếng Pháp là hai dấu ấn gắn với những thời kỳ lịch sử đen tối, thời kỳ người Việt Nam bị ngoại bang đô hộ. Nhưng ăn bằng đũa và nói tiếng Pháp lại cũng là hai di sản văn hoá của hai khối văn minh Á và Âu mà người Việt Nam đã tiếp nhận trên tiến trình lịch sử của mình.

Trên bản đồ địa lý thế giới, nước Việt Nam đương nhiên ở rất xa Châu Âu nhưng lại dính liền với Trung Hoa bởi một đường biên giới hình chóp ở phía Bắc và trong thời hiện đại này đường ranh giới chủ quyền trên biển cũng đang là một yếu tố tác động mạnh mẽ vào quan hệ giữa hai nước.

Nhìn vào bản đồ, Việt Nam gắn với không gian địa lý của khu vực Đông Nam Á nhiều hơn là Đông Á như Nhật Bản hay Triều Tiên. Việt Nam lại nằm trên cái khớp nối giữa hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Hoa (Indo-Chine); lại phơi lưng ra Thái Bình Dương ngay sát với con đường hàng hải được mệnh danh là “con đường tơ lụa trên biển” nối Châu Âu và Châu Á trong những thế kỷ xa xưa mà dấu tích cho đến ngày nay là xác của những con tàu đắm và chủ quyền đối với những dải đảo và các bãi san hô chạy dọc theo bờ biển miền Trung cho tới cực Nam là Côn Đảo mà trong một bản đồ cổ được vẽ bởi Nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX được đặt tên chung là “Vạn Lý Trường Sa” ứng với Hoàng Sa và Trường Sa trên bản đồ hiện tại v.v…

Có ai đó từng ví nước Việt Nam trên bản đồ thế giới trông giống như một “anh nông dân” đội nón trên đầu và è cổ dưới sức nặng khổng lồ của khối lục địa Trung Hoa giàu văn minh cũng lại nhiều hiểm hoạ. Cái khối nặng ấy khiến nước Việt Nam muốn tồn tại phải còng lưng lại như cái lò xo chịu lực để không gẫy gục và thỉnh thoảng lại bật dậy mỗi khi quyền tự chủ bị đè nén quá sức. Có thể vì vậy mà nước Việt Nam phải vươn rộng lãnh thổ về phương Nam và quay lưng ra biển để ôm chặt lấy lục địa phía Tây, gần gũi với văn minh Ấn Độ và gắn kết với văn minh hải đảo Đông Nam Á như để tìm một đối trọng văn hoá với văn minh Trung Hoa trước khi tiếp xúc với Châu Âu và phần còn lại của thế giới.

Trong lịch sử thành văn, người Châu Âu đầu tiên đến Đại Việt cách đây đúng 580 năm (1533) là một nhà truyền giáo không rõ quốc tịch, có tên phiên âm Hán-Việt là I-nê-khu đến vùng Nam Định. Những nhà truyền giáo là  những người Âu  tiên phong  đến Việt Nam và trở nên đông đảo hơn vào các thế kỷ XVII-XVIII cùng với những thương nhân và các nhà hàng hải. Họ đến với mục tiêu tôn giáo và thương mại của mình. Nhưng sự có mặt của họ cũng trùng khớp với thời gian diễn ra công cuộc chinh phục các thuộc địa của các quốc gia thực dân phương Tây.

Cho dù sau này chủ nghĩa thực dân cũng như những cách nhìn nhận cực đoan của các chính thể Việt Nam có tạo ra những xung  đột tôn giáo nhưng về căn bản nó chỉ diễn ra trên thượng tầng, còn trong đời sống xã hội về căn bản vẫn giữ được truyền thống là tìm đến sự dung hoà trong khối cộng đồng các dân tộc. Hai bài học phản diện của thế kỷ XIX (chính sách sát tả của Nhà Nguyễn) và thế kỷ XX (chính sách chống Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm) là minh chứng lịch sử.

Do vậy, đến từ phương Bắc là “tam giáo đồng nguyên”; đến từ Phương Tây là “đồng hành cùng dân tộc” cũng là những biểu hiện chính diện của lịch sử tôn giáo du nhập vào Việt Nam. Có thể nói văn hoá Thiên Chúa giáo là yếu tố tiên phong của phương Tây đến với người dân Việt Nam.

Nước Việt Nam còn là một quốc gia đa dân tộc, với nhiều nền văn hoá đa dạng. Bên cạnh một cộng đồng chủ thể (Việt) ở lưu vực của các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã và sông Lam, quá trình Nam tiến là phương thức duy nhất để Việt Nam tồn tại và phát triển liền kề nước Trung Hoa khổng lồ, để  hoàn chỉnh lãnh thổ Đại Việt và tạo dựng nền văn hiến quốc gia. Sự đa dạng không chỉ thể hiện bằng một con số cộng những nền văn hoá của các cộng đồng khác biệt này mà đã có một sự giao thoa sâu sắc.

Chủ nghĩa thực dân luôn dùng chính sách chia để trị, trong đó có chia rẽ dân tộc và lãnh thổ; còn lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thì luôn lấy mục tiêu đoàn kết mọi dân tộc trên một lãnh thổ không thể chia cắt làm mục tiêu và động lực để đạt tới thắng lợi cuối cùng bằng mọi giá.

Nước Pháp đến Việt Nam bằng can thiệp quân sự, để không chỉ đạt mục tiêu tạo được một thuộc địa ở vùng Viễn Đông mà điều quan trọng hơn, trong buổi ban đầu ấy là để tạo bàn đạp thâm nhập vào miền Tây Nam Trung Quốc để dự “bữa cỗ Trung Hoa” - khát vọng của hầu hết các quốc gia thực dân phương Tây ở thế kỷ XIX. Con đường sắt Hải Phòng-Vân Nam được khai thông ngay đầu thế kỷ XX được coi là đồ sộ nhất ở khu vực vào thời điểm đó là một bằng chứng.

Nhưng chính công cuộc thực dân bằng một cuộc chinh phục vũ trang không mấy khó khăn vì sự kháng cự yếu ớt của nền quân chủ Việt Nam đã quá lỗi thời mở ra một cuộc khai thác thuộc địa tuy gắn liền với một chính sách bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, nhưng lại tạo một cơ hội để Việt Nam có thể thoát ra khỏi những ảnh hưởng cố hữu với nền văn minh phương Bắc đã ăn sâu vào cơ chế văn hoá cả ngàn năm.

Thực sự có một cuộc đột phá làm thay đổi tận gốc những nền tảng xã hội và kinh tế, kéo theo những thay đổi to lớn về văn hoá diễn ra chỉ trong chừng  nửa thế kỷ tính từ khi hoàn chỉnh thể chế thuộc địa (cuối thế kỷ XIX) đến khi nước Việt Nam giành được độc lập (giữa thế kỷ XX). Có thể nói, chưa có một giai đoạn nào trong lịch sử nước ta, với một thời gian chỉ nửa thế kỷ đã tạo được một sự thay đổi rất căn bản diện mạo nước Việt Nam mà nền tảng lại chính là những thành tựu văn hoá, khoa học và công nghệ tiên tiến của nhân loại mà trực tiếp là nước Pháp.

Hệ thống giao thông vận tải phi truyền thống với các phương tiện và phương thức đi lại hoàn toàn mới; những thành tựu kiến trúc và quy hoạch đô thị chưa từng có cùng nền công nghệ mới mẻ làm thay đổi kết cấu và sự phân bố dân cư; một nền giáo dục hoàn toàn khác trước và có khả năng tiếp cận với thế giới tri thức hiện đại; một cấu trúc xã hội tuy vẫn duy trì những yếu tố của xã hội truyền thống nhưng có cơ sở để thay đổi theo xu thế hiện đại và hội nhập với thế giới; một đời sống xã hội với nhiều thay đổi bởi những cấu trúc dân cư hiện đại với các nguồn nhân lực thoát ly khỏi nông thôn, tầng lớp thị dân và trí thức tân học cùng với lối sống mới gắn với các trào lưu văn hoá, nghệ thuật phương Tây được quảng bá trên nền tảng ngôn ngữ tiếng Pháp thông dụng trong xã hội thượng lưu cùng với sự phổ biến chữ quốc ngữ trong dân chúng v.v...

Và ở trên thượng tầng xã hội, các tư tưởng và học thuyết chính trị của xã hội hiện đại có cơ sở du nhập và đựoc tiếp nhận trong đời sống  của các tầng lớp xã hội. Bên cạnh xu hướng Tây hoá và mại bản, thì những nhân tố mới mẻ của thời đại trong đó có nền dân chủ của phương Tây trong đó có những nhân tố tích cực của nước Pháp thời Mặt trận Bình dân (1936-1939) làm tăng thêm những năng lực tinh thần mới cho người Việt Nam. Chính những nhà cai trị thực dân Pháp nhận ra rằng “con đường sang Pháp là con đường trở lại chống nước Pháp”.

Tựa như một động lực định hướng cho nhiều người Việt Nam hướng sang Pháp lại chính là lý tưởng “Tự do - Bình đẳng và Bác ái” của cuộc Cách mạng Tư sản 1789 (từ Phan Châu Trinh đến Nguyễn Ái Quốc đều có sự lựa chọn tương tự). Từ Đảng Xã hội đến Đảng Cộng sản Pháp là con đường lựa chọn tiếp theo của người đã lãnh đạo công cuộc đánh đổ chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam. Và trong bản Tuyên ngôn Độc lập của mình, dân tộc Việt Nam không quên nhắc lại cái nguyên lý bất hủ của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng” (1792).

Không ai quên được cái hình ảnh kết thức cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nước Pháp bại trận ở Điện Biên Phủ. Đoàn quân viễn chinh Pháp vượt cầu Doumer (tên viên Toàn quyền Đông Dương xây dựng cầu) để rút khỏi miền Bắc Việt Nam và một quan chức ngoại giao Pháp là ông Jean Sainteny đi ngược lại qua cầu Long Biên đến nhận chức Tổng đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp tại Hà Nội (10.1954). Trong hồi ức của mình, vị khách Pháp ngạc nhiên và xúc động khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh giang rộng cánh tay với lời chào: Nào, ôm nhau chứ, bây giờ là lúc chúng ta hợp tác để xây dựng...

Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai đương đầu với nước Mỹ, lịch sử ghi nhận bài phát biểu của tổng thống De Gaulle tại Phnompenh 1966, lấy kinh nghiệm của nước Pháp trong quá khứ để cảnh báo nước Mỹ hãy rút khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. Để rồi, cách đây 70 năm, đầu 1973, Hiệp định Paris được ký kết mở đầu sự lập lại quan hệ ngoại giao chính thức với nước Pháp và nhiều quốc gia phương Tây khác.

“Ăn bằng đũa và nói tiếng Pháp” là trải nghiệm lịch sử giữa Việt Nam và nước Pháp, một quốc gia phương Tây đầu tiên trong cuộc hội nhập với thế giới còn lại “ngoài Trung Hoa” trong lịch sử. Nó là một di sản tạo ra một năng lực hội nhập với thế giới, tạo dựng mối liên lập (interdependence) giữa Việt Nam với thế giới để phát triển và cũng để điều chỉnh lại những di sản của quá khứ trong đó có một trường kỳ lịch sử, Việt Nam chỉ phải ứng phó để tồn tại trong một “Không gian Trung Hoa”.