''Sống dở chết dở'' với hàng tồn

Kinh tế 20/04/2013 - 07:54

Có tới 73% doanh nghiệp (DN) đang ''sống dở chết dở'' với hàng tồn kho của mình. Đáng lo hơn, nỗi ám ảnh này có thể sẽ còn kéo dài.

no image
Chỉ số động thái hàng tồn kho năm 2013 ở mức âm 19điểm

Cũng phải phân tích thêm, Khảo sát Động thái DN do Phòng Thương mạivà Công nghiệp (VCCI) công bố hôm qua (18/4) đã phát hiện, nguyên nhân lớn nhất buộc DN phải ngừnghoạt động trong năm 2012 là không tìm được đầu ra cho sản phẩm, chứ không phải vì thiếu vốn, haygiá nguyên vật liệu tăng cao như nhiều giả định trước đó.

Đây cũng là một phần lý do khiến 58,3% DN quyết định giữ nguyên quymô kinh doanh trong năm 2013; 10,4% DN tính tới việc giảm quy mô kinh doanh; khoảng 1% DN có thểphải ngừng hoạt động, thậm chí là giải thể.

Rõ ràng, cho dù bức tranh dự cảm của DN có một vài điểm sáng đángkể, như kỳ vọng về tình hình sản xuất, kinh doanh chung khả quan hơn với mức điểm âm 9 (tốt hơn rấtnhiều so với điểm âm 32 của lần công bố cách đây 1 năm), tổng doanh số, lượng đơn đặt hàng… đã cóđiểm dương.

Mặc dù vậy, những dự cảm bất lợi của doanh nghiệp về sự suy giảmnhu cầu thị trường trong nước và sự tăng cao hơn trong giá thành sản xuất trong năm 2013 đã chothấy, những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa qua của Chính phủ chưa giúp doanh nghiệp thực sự vượtqua giai đoạn khó khăn.

Bàn về giải pháp cho vấn đề này, đang có những quan điểm khá khácnhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, để doanh nghiệp chấp nhận phải trả giá cho những đầu tư có thểdễ dãi hoặc không hợp thời để có sự thay đổi thực sự về chất, thì buộc doanh nghiệp hoặc phải táicơ cấu theo yêu cầu khắt khe hơn của nền kinh tế, hoặc phải giải thể để dành cơ hội cho doanhnghiệp khác.

Quan điểm thứ hai cho rằng, trong những giải pháp dài hạn để tái cơcấu nền kinh tế, vẫn cần những biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp xử lý hàng tồn kho hiện hữu và hạn chếđược tồn kho trong tương lai. Các giải pháp đề xuất là tăng tổng cầu, bao gồm cả tăng nguồn và giảingân vốn đầu tư của Nhà nước, tăng cầu khu vực doanh nghiệp thông qua các chính sách lãi suất vốnvay thấp, tiết giảm chi phí quản lý, tăng năng suất lao động, chính sách thuế thấp hợp lý... để tạocơ hội giảm giá cả, tăng khả năng cạnh tranh...

Trên thực tế, những giải pháp của Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệpcũng thiên theo hướng thứ hai và có thể sẽ tiếp tục mở rộng hơn, khi những đề xuất mới về áp dụngsớm các mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp để kích cầu và hỗtrợ một số phân khúc của thị trường bất động sản… đã được Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốchội.

Phải nhắc lại rằng, chính những chậm trễ trong thực hiện Nghị quyết02/NQ-CP ngày 7/1/2013 của Chính phủ về các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đã tác động không nhỏ tớiniềm tinh kinh doanh, dự cảm về tình hình sản xuất của doanh nghiệp trong năm nay. Ngay trong cácđề xuất gửi Chính phủ thông qua khảo sát của VCCI, các doanh nghiệp đã nhắc tới yêu cầu thực hiệnnghiêm túc và giám sát chặt chẽ các giải pháp đã được đưa ra trước đó.

Cũng trong lúc này, bài học quá đắt về bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dàido hậu quả của gói kích cầu được đưa ra vào năm 2008-2009 được nhắc lại như một kinh nghiệm lớntrong điều hành chính sách. Khi đó, các biện pháp chính sách thường bị chậm, thiếu lộ trình nhấtquán và kiên định trong trung hạn và dài hạn, thể hiện ở việc các chính sách thay đổi đột ngột giữahai thái cực, thắt chặt và nới lỏng chính sách tài khoá, tiền tệ ngay khi có dấu hiệu tăng cao hayhạ nhiệt của lạm phát.

Nền kinh tế đang đối mặt với những bất ổn chưa thể giải quyết trongngày một, ngày hai. Khi các điểm yếu nội tại vẫn chưa được tháo gỡ, thì sự thành công của các chínhsách hỗ trợ doanh nghiệp càng phụ thuộc vào nghệ thuật điều hành cùng sự giải trình minh bạch, côngkhai của các cơ quan quản lý nhà nước.

Khánh An