Từ ngày 16/7, giấy xác nhận độc thân để kết hôn phải ghi tên người dự định cưới

Xã hội 12/07/2020 - 14:38

Thông tư 04/2020/TT-BTP đã đưa ra nhiều quy định mới về việc đăng ký kết hôn cũng như cung cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân mà mọi người cần lưu ý.

Vào ngày 28/5 vừa qua, Bộ Tư Pháp đã ký quyết định thông qua Thông tư 04 về quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Hộ tịch. Theo đó, với nhiều điểm mới được quy định trong Thông tư mới này được cho là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện thủ tục hành chính.

Trong số những điểm đáng chú ý của Thông tư, những quy định mới về việc đăng ký kết hôn cũng như cung cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có những thay đổi mà người dân cần lưu ý.

Trong đó đáng chú ý là quy định về việc ghi tên người sẽ dự định kết hôn trong giấy xác nhận độc thân để kết hôn. Cụ thể:

Tại Khoản nội dung thứ 3, Điều 12 về "Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân", quy định:

Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp một (01) bản cho người yêu cầu. 

Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn.

Ví dụ: Giấy này được cấp để làm thủ tục kết hôn với anh Nguyễn Việt K, sinh năm 1962, công dân Việt Nam, Hộ chiếu số: B123456 do Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức cấp ngày 01/02/2020; tại UBND huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Từ ngày 16/7, giấy xác nhận độc thân để kết hôn phải ghi tên người dự định cưới - ảnh 1

Ảnh minh họa.

Ngoài ra, cũng tại điều 12 đã đưa ra những quy định khác về đăng ký kết hôn cũng như cung cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân mà người dân cần lưu ý: 

Thứ nhất, Trường hợp người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đây, thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. 

Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này.

Thứ hai,  Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.

Ví dụ: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp ngày 03/02/2020 nhưng ngày 10/02/2020, người được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã đăng ký kết hôn thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sử dụng đến ngày 10/02/2020.4. 

Thứ ba, Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác, không phải để đăng ký kết hôn, thì người yêu cầu không phải đáp ứng điều kiện kết hôn; trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ mục đích sử dụng, không có giá trị sử dụng để đăng ký kết hôn. 

Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp theo yêu cầu.

Ví dụ: Giấy này được cấp để làm thủ tục mua bán nhà, không có giá trị sử dụng để đăng ký kết hôn.

Thứ tư, Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới tính hoặc kết hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết.